Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/HS-ST

Ngày 17 - 02 - 2025

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Kim Liên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bắc Hải, ông Nguyễn Văn Khiển.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Nhật Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Tô Thị T; tên gọi khác: Không, sinh ngày 01 tháng 03 năm 1956, sinh tại huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: Xóm C, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La (nay là Tiểu khu E, thị trấn M, huyện Q, tỉnh Sơn La); Nghề nghiệp: Kinh doanh tự do; Trình độ học vấn: 3/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Tô Văn N (đã chết) và bà Hà Thị B, sinh năm 1929; Bị cáo có chồng là Vũ Đình T1, sinh năm 1954; Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1982, con nhỏ nhất sinh năm 1987; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13h30 ngày 01/11/2024, Tổ công tác Phòng An ninh điều tra (PA09) Công an tỉnh S phối hợp với các lực lượng chức năng làm nhiệm vụ tại khu vực Xóm C, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La phát hiện tại quầy bán hàng tạp hóa của Tô Thị T, sinh năm 1956 trú tại Xóm C, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La có dấu hiệu kinh doanh trái phép mặt hàng liên quan đến vật liệu nổ. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc và yêu cầu Tô Thị T giao nộp đồ vật liên quan.

Vật chứng thu giữ gồm: 23 hộp giấy catton hình chữ nhật màu xanh, đỏ có chữ nước ngoài, bên trong mỗi hộp có một vỉ giấy một mặt màu đỏ, một mặt màu trắng, bên trong giữa hai mặt giấy có chứa 75 hạt hình tròn (nghi là hạt nổ).

Hồi 17 giờ 30 phút ngày 01/11/2024, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh S tiến hành mở niêm phong xác định số lượng, trích mẫu giám định, kết quả:

23 hộp giấy catton hình chữ nhật màu xanh, đỏ có chữ nước ngoài, bên trong mỗi hộp có một vỉ giấy một mặt màu đỏ, một mặt màu trắng, bên trong giữa hai mặt giấy có chứa 75 hạt hình tròn, tổng cộng 1.725 hạt; lấy 01 (một) hộp, làm mẫu gửi giám định, đánh ký hiệu H1.

Ngày 03/11/2024, Cơ quan An ninh điều tra (PA09) Công an tỉnh S ra quyết định trưng cầu giám định số 160/QĐ - ANĐT yêu cầu giám định vật liệu nổ đến Phòng K1, Công an thành phố H: "Mẫu giám định ký hiệu H1 có phải vật liệu nổ không? Loại gì, tính năng, tác dụng? Còn sử dụng được không?".

Kết luận giám định số: 7789/KL-KTHS ngày 05/11/2024 của Phòng K1, Công an thành phố H kết luận:

- 75 (bảy mươi lăm) hạt hình tròn bên trong 01 (một) vỉ giấy một mặt màu đỏ, một mặt màu trắng (ký hiệu H1) đều là hạt nổ. Hạt nổ thuộc phụ kiện nổ trong nhóm vật liệu nổ. Hạt nổ có tác dụng phát lửa đốt cháy liều thuốc phóng trong các loại đạn tự chế, hiện đều còn sử dụng được.

Quá trình điều tra bị cáo Tô Thị T khai nhận: Gia đình bị cáo kinh doanh hàng tạp hóa tại Xóm C, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La. Quá trình kinh doanh có nhiều người hỏi mua hạt nổ. Đến khoảng tháng 10/2024, Tô Thị T đang ở quầy bán hàng tạp hóa của gia đình tại xóm C, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La có một người phụ nữ không quen biết bán hàng rong điều khiển xe máy đến nhà T, tại đây người phụ nữ lấy 01 hộp cát tông bên trong chứa 35 hộp nhỏ chứa các vỉ hạt nổ đặt vấn đề bán cho T với giá 30.000đ/1 hộp lẻ. T đồng ý mua hết số hộp hạt nổ của người phụ nữ mang đến với số tiền 1.000.000 đồng, người phụ nữ nhất trí. Trao đổi mua bán xong người phụ nữ đi đâu T không biết. Sau đó T đã bán được cho một số người không quen biết với giá 35.000đ/1 hộp hạt nổ. Đến ngày 01/11/2024, khi được Tổ công tác của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh S đến kiểm tra thì T đã tự giác giao nộp số hạt nổ trên cho tổ công tác.

Về nguồn gốc 1.725 hạt nổ thu giữ trong vụ án bị cáo khai nhận mua được của một người phụ nữ không quen biết. Do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, điều tra mở rộng vụ án.

Tại bản Cáo trạng số: 09/CT-VKS-P2 ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Tô Thị T về tội: Tội Tàng trữ, mua bán trái phép vật liệu nổ theo quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa, bị cáo Tô Thị T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố và không khai báo gì thêm.

* Tranh luận tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La giữ nguyên quyết định truy tố, và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Tô Thị T phạm tội Tàng trữ, mua bán trái phép vật liệu nổ.

Áp dụng khoản 1 Điều 305, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Tô Thị T từ 12 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo từ 24 tháng đến 30 tháng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS

Giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh S xử lý số hạt nổ còn lại sau khi trích mẫu gửi giám định.

Về án phí: Đề nghị xử lý theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên trong quá trình điều tra; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng tháng 10/2024 bị cáo có mua của một người phụ nữ không quen biết 01 hộp cát tông bên trong chứa 35 hộp nhỏ chứa các vỉ hạt nổ nhằm mục đích bán lại để kiếm lời. Sau đó bị cáo đã bán được cho một số người không quen biết với giá 35.000đ/1 hộp hạt nổ. Đến ngày 01/11/2024 khi Tổ công tác của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh S đến kiểm tra thì bị cáo đã tự giác giao nộp 23 hộp cát tông, mỗi hộp đựng một vỉ giấy một mặt màu đỏ, một mặt màu trắng gắn 75 (bảy mươi lăm) hạt nổ, tổng số hạt nổ là 1.725 (một nghìn bảy trăm hai mươi lăm) hạt.

Hành vi của bị cáo được chứng minh bằng các chứng cứ sau:

  • - Biên bản sự việc hồi 13 giờ 30 phút ngày 01 tháng 11 năm 2024; Biên bản mở niêm phong, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng hồi 17 giờ 30 phút ngày 01 tháng 01 năm 2024; Biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định hồi 10 giờ 00 phút ngày 05 tháng 11 năm 2024.
  • - Kết luận giám định số 7789/KL-KTHS ngày 05 tháng 11 năm 2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận:
  • + 01 (một) hộp giấy cát tông hình chữ nhật kích thước 02x02x05cm, đặc điểm vỏ màu xanh đỏ, in chữ nước ngoài và hình máy bay, bên trong có: 75 (bảy mươi lăm) hạt hình tròn bên trong 01 (một) vỉ giấy một mặt màu đỏ, một mặt màu trắng (ký hiệu HI) đều là hạt nổ. Hạt nổ thuộc phụ kiện nổ trong nhóm vật liệu nổ. Hạt nổ có tác dụng phát lửa đốt cháy liều thuốc phóng trong các loại đạn tự chế, hiện đều còn sử dụng được.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản sự việc, kết luận giám định và vật chứng thu giữ.

Với các căn cứ chứng minh trên có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Tô Thị T đã phạm tội Tàng trữ, mua bán trái phép vật liệu nổ, được quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố bị cáo là có căn cứ.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có người thân thích là ông Tô Văn N (bố đẻ) được Nhà nước tặng 01 Huy chương kháng chiến hạng Ba; Tô Văn K (anh trai ruột) là liệt sĩ hi sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; Tô Văn H (em trai ruột) được tặng 01 Huân chương Chiến công hạng Ba; Vũ Đình T1 (chồng) là T2 bệnh binh, được Nhà nước tặng 01 Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng 3 và được Ủy ban nhân dân tỉnh S tặng 03 Bằng khen về thành tích xuất sắc trong công tác thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước và tỉnh Sơn La các năm 2002, 2003 và 2004. Gia đình bị cáo có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú. Do vậy, cần xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, mua bán trái phép 1.725 hạt nổ thuộc nhóm vật liệu nổ là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích kiếm lời nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội; hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm vào quy định độc quyền của Nhà nước về chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán và quản lý các vật liệu nổ.

[5] Về mức hình phạt áp dụng: Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo thuộc đối tượng người cao tuổi, sức khỏe yếu, bị bệnh tim và tiểu đường phải điều trị và sử dụng thuốc thường xuyên; có đơn xin giảm nhẹ hình phạt có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú, bị cáo đủ điều kiện để được hưởng án treo nên mở lượng khoan hồng, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng bảo đảm biện pháp cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và răn đe, phòng ngừa chung. Đề nghị về mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là phù hợp.

[6] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 305 Bộ luật Hình sự. Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về các tình tiết khác trong vụ án:

Đối với ông Vũ Đình L, sinh năm 1987 trú tại xóm C, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La (là con trai của bị cáo T). Quá trình điều tra xác định ông L không biết và không được bị cáo T nói việc có tàng trữ, mua bán trái phép vật liệu nổ nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

[8] Về nguồn gốc số hạt nổ thu giữ trong vụ án. Theo lời khai của bị cáo, số hạt nổ trên là do bị cáo mua của một người phụ nữ bán hàng rong không quen biết, không rõ tên tuổi với giá 1.000.000đ. Ngoài lời khai của bị cáo không còn nguồn tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh được tên tuổi, địa chỉ của người phụ nữ đã bán số hạt nổ cho bị cáo. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, điều tra mở rộng vụ án.

[9] Về xử lý vật chứng: Đối với số hạt nổ còn lại sau khi đã trích mẫu giám định, xét thấy vật chứng trên đều thuộc nhóm vật liệu nổ cần giao cho Cơ quan Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh S tiếp nhận, xử lý theo thẩm quyền.

[10] Về án phí: Bị cáo thuộc đối tượng là người cao tuổi theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án do đó miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 305, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Tô Thị T phạm tội: Tội Tàng trữ, mua bán trái phép vật liệu nổ.

Xử phạt bị cáo Tô Thị T: 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17/02/2025).

Giao bị cáo Tô Thị T cho Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện Q, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 64, Điều 66, Điều 73 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017:

2.1. Tịch thu và giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh S tiếp nhận, xử lý theo thẩm quyền gồm: 01 (Một) hộp vật chứng nguyên niêm phong (Bên trong có chứa 22 (hai mươi hai) hộp cát tông hình hộp chữ nhật kích thước 02x02x05cm bên ngoài có in chữ nước ngoài và hình máy bay; bên trong mỗi hộp đựng một vì giấy một mặt màu đỏ, một mặt màu trắng gắn 75 (bảy mươi lăm) hạt hình tròn còn lại sau khi lấy mẫu giám định). Tại các mép có dán 02 (hai) Giấy niêm phong do Công an tỉnh S phát hành lần lượt có số 097470, 097479, trên giấy niêm phong có chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong và chữ ký, họ tên của bà Tô Thị T cùng 02 hai hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh S. Một mặt hộp vật chứng bên ngoài có ghi thông tin: “Vật chứng còn lại gồm 01 (một) hộp cát tông bên trong có chứa 22 (hai mươi hai) hộp cát tông, mỗi hộp đựng một vỉ giấy một mặt màu đỏ, một mặt màu trắng gắn 75 (bảy mươi lăm) hạt hình tròn (nghi là hạt nổ) trong vụ Tô Thị T".

(Theo Kết luận giám định số 7789/KL-KTHS ngày 05/11/2024 của Phòng KTHS – Công an thành phố H thì mẫu gửi giám định ký hiệu H1 đều là hạt nổ thuộc phụ kiện nổ trong nhóm vật liệu nổ, còn sử dụng được)

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/01/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh S và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La)

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghịquyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) đối với bị cáo Tô Thị T.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Tô Thị T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17/02/2025).

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Bắc Hải

Điêu Thị Kim Liên

Nguyễn Văn Khiển

 

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - Công an tỉnh Sơn La;
  • - Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Sơn La;
  • - Cục THADS tỉnh Sơn La;
  • - Bị cáo;
  • - Ủy ban nhân dân thị trấn Mường Giàng, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - Phòng KTNV- THA;
  • - Lưu HS-AV.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về tàng trữ, mua bán trái phép vật liệu nổ

  • Số bản án: 46/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ, mua bán trái phép vật liệu nổ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tô Thị T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger