Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số 46/2025/DS-PT
Ngày 06/02/2025
V/v tranh chấp về đất đai, hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và
yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Nam
Các Thẩm phán: Ông Điều Văn Hằng
Ông Phạm Văn Lợi

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thanh Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Bà Trần Thị Ngọc, Kiểm sát viên cao cấp;

Ngày 06 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 544/2024/TLPT-DS ngày 12/11/2024 về “Tranh chấp về đất đai, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” do có kháng cáo của bị đơn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 82/2024/DS-ST ngày 27/8/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 609/2025/QĐPT ngày 20 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đỗ Hồng N, sinh năm 1996; nơi đăng ký thường trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Quang T; địa chỉ: Số I, khu tái định cư C, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền ngày 25 tháng 6 năm 2022). Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đỗ Trọng A - Luật sư Công ty L thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Trung S, sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Bùi Thanh V - Công ty L1, Đoàn Luật sư thành phố H. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1977; nơi đăng ký thường trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Thôn Q, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
  2. Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H; địa chỉ: Số B L, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng.

Người đại diện hợp pháp của Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H: Ông Nguyễn Ngọc H1 - Giám đốc Văn phòng Đ - Chi nhánh huyện K; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 13 tháng 9 năm 2023). Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Cụ Vũ Thị N1; địa chỉ: Chùa B, thôn Đ, xã D, huyện V, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
  2. Bà Nguyễn Nữ Mai H2; địa chỉ: Tổ G, khu G, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
  3. Bà Phạm Thị O; địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 09/8/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn thống nhất trình bày:

Thửa đất số 110, tờ bản đồ số 01, thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng có nguồn gốc là của cụ Vũ Thị N1 (bà ngoại của chị Đỗ Hồng N) tặng cho mẹ đẻ của chị N là bà Nguyễn Thị Hồng H vào năm 2012. Việc tặng cho được lập thành văn bản, có chứng thực theo quy định của pháp luật và được Văn phòng đăng ký đất đai - Chi nhánh huyện K xác nhận vào ngày 15/6/2012.

Khoảng cuối năm 2012, do cần tiền vốn làm ăn nên bà H đã chuyển nhượng nhà đất trên cho ông Phùng Thế H3 và bà Vũ Thị Thúy H4 với giá 300.000.000 đồng. Do ông H3 và bà H4 chưa có nhu cầu sử dụng nên vẫn cho bà H ở lại nhà đất trên. Năm 2014, do thấy anh trai của bà H là ông Nguyễn Trung S bán nhà để trả nợ, không có chỗ ở nên bà H đã cho ông S sang ở nhờ, vừa để trông nhà vừa để giúp bà H trông nom em trai của chị N vì thời gian này bà H thường xuyên phải lên biên giới phía Bắc buôn bán. Sau đó, do ông S cản trở, không trả nhà cho bà H. Vì vậy, ngày 07/5/2021, bà H và vợ chồng ông H3, bà H4 đã lập Văn bản thoả thuận về việc huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H3, bà H4 và bà H.

Ngày 27/8/2021, bà Nguyễn Thị Hồng H lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng thửa đất trên cho chị N. Việc tặng cho được lập thành văn bản và chứng thực theo quy định của pháp luật. Chị N đã được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 645600, vào sổ số CS 01207 ngày 30/11/2021.

Sau khi được tặng cho quyền sử dụng đất, bà H và chị N đã nhiều lần gặp và yêu cầu ông S trả lại nhà đất trên nhưng ông S không đồng ý. Vì vậy, chị N khởi kiện yêu cầu ông S phải trả lại chị N diện tích đất tại thửa số 110, tờ bản đồ số 01 với diện tích đo thực tế là 132,4m² và toàn bộ tài sản gắn liền với đất. Chị N không đồng ý với yêu cầu độc lập của ông S về việc đề nghị Toà án công nhận Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất lập ngày 26/12/2013 giữa bà H và ông S là hợp pháp. Bởi lẽ, giấy chuyển nhượng nêu trên vi phạm quy định của pháp luật về nội dung và hình thức của hợp đồng; mặt khác, bà H cũng không tự nguyện chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất cho ông S, việc bà H ký giấy chuyển nhượng chỉ để làm tin khi ông S cho bà H vay tiền. Trước khi ký giấy chuyển nhượng nhà đất, ông S đã được bà H thông báo về việc bà H đã chuyển nhượng chuyển sử dụng nhà đất nêu trên cho ông H3 và bà H4 nhưng ông S vẫn cố tình ký giấy chuyển nhượng là vi phạm điều cấm của pháp luật.

Tuy nhiên, do các bên đương sự đều có quan hệ là người thân trong gia đình. Vì vậy, trường hợp ông S đồng ý trả lại nhà đất cho chị N, chị N sẽ có trách nhiệm thanh toán cho ông S số tiền nợ gốc mà bà H đã vay của ông S là 250.000.000 đồng và số tiền lãi tính đến thời điểm hiện tại, tổng cộng là 700.000.000 đồng.

Tại đơn yêu cầu độc lập đề ngày 29/3/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn, người đại diện hợp pháp của bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn thống nhất trình bày:

Ngày 26/12/2013, bà Nguyễn Thị Hồng H chuyển nhượng cho ông Nguyễn Trung S quyền sử dụng nhà đất tại thửa số 110, tờ bản đồ số 01, thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng. Việc chuyển nhượng được lập thành văn bản, có sự chứng kiến và ký xác nhận của ông S, bà H, cụ Vũ Thị N1, bà Nguyễn Nữ Mai H2 và ông Nguyễn Trung H5 (đã chết) - là mẹ đẻ và các anh, chị ruột của ông S và bà H. Tuy trong giấy không ghi giá trị chuyển nhượng nhưng các bên thỏa thuận giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 275.000.000 đồng. Ngày 27/12/2013, ông S đã trả cho bà H số tiền 250.000.000 đồng, còn lại 25.000.000 đồng chưa thanh toán với lý do để hoàn tất thủ tục chuyển nhượng; việc giao nhận tiền được lập thành văn bản, có chữ ký của bà H. Như vậy, ông S đã thực hiện quá hai phần ba nghĩa vụ của hợp đồng. Ngay sau khi lập giấy chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất, bà H đã giao nhà đất cho ông S và ông S vẫn quản lý, sử dụng nhà đất này từ năm 2013 đến nay. Quá trình sử dụng, ông S có sửa chữa nhà nhưng chi phí không đáng kể, ông S không có yêu cầu gì về số tiền này.

Ông S không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Hồng N về việc buộc ông phải trả lại nhà đất trên. Đồng thời, ông S có yêu cầu độc lập, đề nghị Tòa án công nhận Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất ngày 26/12/2013 giữa bà H và ông S là hợp pháp; đồng thời hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 645600, vào sổ số CS 01207 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 30/11/2021 cho chị Đỗ Hồng N. Trường hợp giấy chuyển nhượng nhà đất giữa ông S và bà H không có hiệu lực theo quy định của pháp luật thì đề nghị Toà án giải quyết hậu quả, buộc bà H phải bồi thường cho ông S số tiền tương ứng với giá trị nhà đất theo kết quả định giá tại thời điểm hiện tại, ông S sẽ trả lại nhà đất cho chị N. Ngoài ra, tại phiên toà, phía bị đơn bổ sung yêu cầu, đề nghị Toà án tuyên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà H và chị N là vô hiệu.

Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Hồng H có ý kiến trình bày:

Bà nhất trí với phần trình bày của phía nguyên đơn và không đồng ý với phần trình bày của phía bị đơn. Bà khẳng định quyền sở hữu, sử dụng nhà đất trên, bà được mẹ đẻ là cụ Vũ Thị N1 tặng cho và bà đã tặng cho lại con gái là Đỗ Hồng N.

Về việc bà ký vào Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/12/2013 là do lúc đó bà vay tiền của bà Nguyễn Nữ Mai H2 và không có tiền trả. Vì vậy, bà H2 đề nghị bà vay tiền của ông Nguyễn Trung S để trả cho bà H2. Sau đó, bà không trực tiếp hỏi vay tiền ông S mà bà H2 làm việc với ông S, viết sẵn giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất và bảo bà và ông S ký vào giấy tờ này; bà H2 giải thích giấy chuyển nhượng chỉ để làm tin trong gia đình. Do tin tưởng bà H2 nên bà đã ký vào giấy chuyển nhượng nhưng thực chất không có việc bà chuyển nhượng cho ông S quyền sử dụng nhà đất trên. Trong giấy chuyển nhượng không ghi số tiền chuyển nhượng và cũng không được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật. Mặt khác, tại thời điểm này bà đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Phùng Thế H3 và bà Vũ Thị Thúy H4 nên không có việc bà chuyển nhượng nhà đất trên cho ông S.

Tuy bà có ký vào Giấy nhận tiền ngày 27/12/2013, nhưng đây là số tiền bà vay ông S để trả cho bà H2; bà H2 là người trực tiếp nhận số tiền này và có đưa lại cho bà 70.000.000 đồng, số tiền còn lại bà H2 trừ vào số tiền bà vay của bà H2.

Liên quan đến yêu cầu khởi kiện của chị N và yêu cầu độc lập của ông S, bà đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N và không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông S. Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất ngày 26/12/2013 giữa bà và ông S không có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, bà sẽ có trách nhiệm bồi thường cho ông S giá trị nhà đất theo quy định của pháp luật và đề nghị ông S trả lại nhà đất cho chị N.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H có ý kiến trình bày:

Qua rà soát hồ sơ đăng ký biến động (tặng cho quyền sử dụng đất) từ bà Nguyễn Thị Hồng H sang chị Đỗ Hồng N đảm bảo đúng quy định tại Điều 79 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về trình tự, thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.

Người làm chứng là cụ Vũ Thị N1 trình bày:

Cụ là mẹ đẻ của bà Nguyễn Thị Hồng H, ông Nguyễn Trung S, ông Nguyễn Trung H5 và bà Nguyễn Nữ Mai H2. Thửa đất số 110, tờ bản đồ số 01, thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng là tài sản của cá nhân cụ. Năm 2012, cụ tặng cho con gái là Nguyễn Thị Hồng H quyền sử dụng thửa đất trên. Việc tặng cho được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện K xác nhận ngày 15/6/2012. Sau khi được tặng cho quyền sử dụng đất, bà H sử dụng, chuyển nhượng hoặc tặng cho ai là quyền của bà H, không ai được can thiệp. Giấy cam kết đề ngày 05/6/2012 không có chữ ký của cụ và cụ cũng không có mặt khi lập giấy cam kết. Cụ xác nhận có ký vào văn bản do ông S cung cấp cho Toà án (mặt sau Giấy chuyển nhượng nhà đất ngày 26/12/2013) nhưng không biết về nội dung và cũng không đồng ý với nội dung của giấy chuyển nhượng này. Về chữ ký trong văn bản trên là do vào cuối tháng 12 năm 2013, bà H2 và ông S lên chùa B - là nơi cụ đang tu tập yêu cầu cụ ký xác nhận việc bà H vay tiền của ông S. Do bà H2 nói to tiếng, làm ảnh hưởng đến mọi người; vì vậy, cụ đã ký vào một tờ giấy trắng, không có nội dung gì. Đối với ông S, đã được vợ chồng cụ tặng cho hai mảnh đất nhưng không giữ được và bán đi vì cờ bạc.

Người làm chứng là bà Nguyễn Nữ Mai H2 trình bày:

Bà là chị gái của ông Nguyễn Trung S và bà Nguyễn Thị Hồng H. Năm 2012, do làm ăn khó khăn nên bà H đặt vấn đề với cụ Vũ Thị N1 cho bà H đứng tên chính chủ thửa đất của cụ N1 để làm thủ tục vay vốn ngân hàng. Cụ N1 bàn với bà H2 và bà H2 đồng ý với điều kiện bà H phải viết giấy cam kết không chuyển nhượng thửa đất cho người ngoài và cầm cố vay nặng lãi. Sau đó, cụ N1 ký thủ tục để chuyển tên cho bà H và được sửa đổi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 15/6/2012. Năm 2013, khi bà H có ý định bán nhà, cụ N1 đã triệu tập họp trong gia đình và quyết định nếu bán thì bán lại cho ông Nguyễn Trung S là anh em trong gia đình, bà H đồng ý và đã chuyển nhượng thửa đất này cho ông S theo Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất ngày 26/12/2013, lúc đó có đầy đủ mọi người cùng chứng kiến, thống nhất nội dung và ký tên xác nhận gồm cụ Vũ Thị N1, bà Nguyễn Nữ Mai H2 và ông Nguyễn Trung H5.

Ngày 27/12/2013, ông Nguyễn Trung S trả cho bà H tiền chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất là 250.000.000 đồng, còn lại 25.000.000 đồng ông S chưa trả vì lý do chờ bà H làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất xong sẽ thanh toán hết. Việc ông S trả tiền cho bà H có bà H2 là người chứng kiến, bà H2 là người viết giấy nhận tiền, ông S, bà H là người ký xác nhận và sau khi thanh toán tiền xong thì ông S đã chuyển đến ở tại nhà đất cho đến nay. Sau đó, mặc dù ông S nhiều lần đề nghị nhưng bà H vẫn không thực hiện việc sang tên quyền sử dụng đất cho ông S. Việc bà H chuyển quyền sử dụng đất cho chị Đỗ Hồng N vào thời gian nào thì bà không được biết.

Người làm chứng là bà Phạm Thị O trình bày: Bà là vợ cũ của ông Nguyễn Trung S; bà kết hôn với ông S vào năm 2000 và đã ly hôn vào năm 2017. Năm 2013, ông S nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Hồng H diện tích 143m² đất tại thửa số 110, tờ bản đồ số 01, thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; trên đất có 01 căn nhà cấp 4; giá trị chuyển nhượng là 275.000.000 đồng. Việc chuyển nhượng nhà đất giữa ông S và bà H được lập thành văn bản có sự chứng kiến và ký tên xác nhận của cụ Vũ Thị N1 - là mẹ đẻ của anh S, chị gái của anh S là Nguyễn Nữ Mai H2 và anh trai của anh S là Nguyễn Trung H5. Khi hai bên lập giấy chuyển nhượng, bà có mặt và trực tiếp chứng kiến việc ông S, bà H và những người trên ký tên vào văn bản. Năm 2017, bà và ông S thuận tình ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy và đã tự thỏa thuận việc phân chia tài sản chung của vợ chồng; theo đó nhà đất mà ông S đã nhận chuyển nhượng của bà H thuộc quyền sở hữu, sử dụng của một mình ông S, bà không có quyền lợi gì liên quan đến tài sản này.

Theo kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng:

Theo Sổ mục kê và Bản đồ giải thửa năm 1985, thửa đất số 110, tờ bản đồ số 01, thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng có nguồn gốc là của cụ Vũ Thế X và cụ Hoàng Thị T1 (T2) tặng cho con gái là Vũ Thị N1; cụ N1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2010.

Ngày 15/6/2012, cụ N1 tặng cho con gái là bà Nguyễn Thị Hồng H quyền sử dụng thửa đất trên; việc tặng cho quyền sử dụng đất được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện K xác nhận.

Ngày 13/12/2012, bà H chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Phùng Thế H3 và bà Vũ Thị Thúy H4. Tuy nhiên, đến ngày 07/5/2021, các bên đã lập văn bản thoả thuận huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên.

Ngày 26/8/2021, bà Nguyễn Thị Hồng H tặng cho con gái là Đỗ Hồng N quyền sử dụng thửa đất trên. Chị N đã được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Hiện tại ông Nguyễn Trung S là người trực tiếp quản lý, sử dụng đối với thửa đất nêu trên và tài sản gắn liền với đất là một ngôi nhà cấp 4, mái bằng và công trình phụ.

Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng và Sơ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo:

Thửa đất số 110, tờ bản đồ số 01, thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng tổng diện tích là 132,4m² - giảm 10,6m² so với diện tích đất ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo kết quả xác minh tại địa phương, diện tích đất có sự chênh lệch như trên là do có sai số trong quá trình đo đạc và tính toán diện tích thửa đất. Cụ thể, căn cứ kích thước các cạnh của thửa đất ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì diện tích của thửa đất trên chỉ có 137,6m² (không phải 143m² như đã ghi trong giấy chứng nhận). Thửa đất đã được xây dựng thành khuôn viên riêng và sử dụng ổn định trong nhiều năm, không có tranh chấp về mốc giới với các hộ liền kề. Trên đất có nhà ở xây tường gạch chỉ, mái bằng bê tông cốt thép và các công trình phụ.

Theo Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản huyện K, thành phố Hải Phòng:

  • Quyền sử dụng đất có giá trị là 12.000.000 đồng/m².
  • Phần tài sản, vật kiến trúc khác trên đất có giá trị là 166.205.000 đồng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 82/2024/DS-ST ngày 27/8/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng đã quyết định:

Căn cứ vào các điều 26, 37, 39, 92, 147, 227, 228, 229, 235 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Các điều 122, 128, 134, 137, 692 và 698 của Bộ luật Dân sự năm 2005;

Các điều 117, 119, 357 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Các điều 167 và 188 của Luật Đất đai năm 2013;

Khoản 3 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Hồng N: Buộc ông Nguyễn Trung S phải trả lại chị Đỗ Hồng N quyền sử dụng thửa đất số 110, tờ bản đồ số 01, thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng với diện tích đo thực tế là 132,4m² và toàn bộ tài sản gắn liền với đất (có sơ đồ kèm theo).
  2. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Trung S về việc đề nghị Tòa án công nhận Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất ngày 26 tháng 12 năm 2013 giữa bà Nguyễn Thị Hồng H và ông Nguyễn Trung S là hợp pháp và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 645600, vào sổ số CS 01207 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 30 tháng 11 năm 2021 cho chị Đỗ Hồng N.

Tuyên bố Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất ngày 26 tháng 12 năm 2013 giữa bà Nguyễn Thị Hồng H và ông Nguyễn Trung S vô hiệu.

Về hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu: Buộc bà Nguyễn Thị Hồng H phải hoàn trả và bồi thường cho ông Nguyễn Trung S tổng số tiền là 1.153.003.000 đồng (một tỷ một trăm năm mươi ba triệu không trăm lẻ ba nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành cho đến khi thi hành án xong khoản tiền còn phải thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Về án phí:
    • Ông Nguyễn Trung S phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu công nhận giao hợp đồng không được chấp nhận và 28.080.080 đồng (hai mươi tám triệu không trăm tám mươi nghìn không trăm tám mươi đồng) án phí trên giá trị tài sản phải thực hiện nghĩa vụ. Ông Nguyễn Trung S đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) - tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000293 ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Ông Nguyễn Trung S còn phải nộp tiếp 28.080.080 đồng (hai mươi tám triệu không trăm tám mươi nghìn không trăm tám mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    • Bà Nguyễn Thị Hồng H phải chịu 46.590.090 đồng (bốn mươi sáu triệu năm trăm chín mươi nghìn không trăm chín mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    • Trả lại chị Đỗ Hồng N 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) - tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001779 ngày 20 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án.

Ngày 10/9/2024, ông Nguyễn Trung S có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự vẫn không thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án. Nguyên đơn là chị Đỗ Hồng N không rút đơn khởi kiện; về cơ bản vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm. Nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị đơn là ông Nguyễn Trung S không rút đơn kháng cáo, về cơ bản giữ nguyên quan điểm đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu của ông.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đề nghị Hội đồng xét xử xét xử theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Trung S trong thời gian luật định nên hợp lệ. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy đinh của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung, kháng cáo của ông Nguyễn Trung S là không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự xử không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Trung S và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định.

  1. Về tố tụng:
    1. Ngày 10/9/2024, ông Nguyễn Trung S có đơn kháng cáo là trong hạn luật định nên đủ điều kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
    2. Ngày 04/7/2022, chị Đỗ Thị N2 có đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu ông Nguyễn Trung S chấm dứt hành vi chiếm giữ, sử dụng nhà đất và trả lại chị nhà đất mà bà Nguyễn Thị Hồng H đã cho chị; ông Nguyễn Trung S có yêu cầu độc lập đề nghị Toà án tuyên huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 645600, vào sổ số CS01207 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 30/11/2021 cho chị Đỗ Hồng N nên được xác định là tranh chấp về đất đai, tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2023/DS-ST ngày 21/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Kiến Thuỵ bị hủy bởi Bản án dân sự phúc thẩm số 10/2024/DS-PT ngày 18/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng vì chưa giải quyết triệt để vụ án làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên vụ án được giao về cho Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết lại theo thủ thủ tục sơ thẩm. Nên Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng thụ lý và giải quyết lại là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 và khoản 9 Điều 26, Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
    3. Về việc xác định người tham gia tố tụng: Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2023/DS-ST ngày 21/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Kiến Thuỵ và Bản án dân sự phúc thẩm số 10/2024/DS-PT ngày 18/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng đều xác định Ủy ban nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Tuy nhiên, trong đơn yêu cầu độc lập, bị đơn là ông Nguyễn Trung S chỉ yêu cầu Toà án tuyên huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 645600, vào sổ số CS 01207 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 30/11/2021 đứng tên chủ sử dụng là chị Đỗ Hồng N; không ai yêu cầu Toà án đánh giá tính hợp pháp của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện K cấp cho cụ Vũ Thị N1 (sau này đã được đăng ký biến động tên người sử dụng đất sang bà Nguyễn Thị Hồng H). Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không xác định Ủy ban nhân dân huyện K là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là có căn cứ.
    4. Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H và người làm chứng là bà Phạm Thị O đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; quá trình giải quyết vụ án, bà O đã có lời khai trực tiếp với Toà án. Vì vậy, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vắng mặt những người trên là có căn cứ.
    5. Tại phiên toà sơ thẩm, bị đơn bổ sung yêu cầu, đề nghị Toà án tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 26/8/2021 giữa bà Nguyễn Thị Hồng H và chị Đỗ Hồng N vô hiệu. Xét yêu cầu của bị đơn được đưa ra sau thời điểm Toà án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét, giải quyết yêu cầu trên trong vụ án này là có căn cứ. Tuy nhiên, yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Hồng N về việc buộc ông Nguyễn Trung S phải trả lại nhà đất tại thửa số 110, tờ bản đồ số 01, thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng có liên quan đến hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà H và chị N, nên quá trình xét xử vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, đánh giá tính hợp pháp của hợp đồng trên là đúng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn xin hoãn phiên tòa vì lý do sức khỏe nhưng không có tài liệu nào làm căn cứ chứng minh cho lý do này; ông S là người có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, có mặt tại phiên tòa; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H vắng mặt, mặc dù Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đối với các đương sự, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  1. Xét kháng cáo của ông Nguyễn Trung S thì thấy:
    1. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự có cơ sở xác định: Năm 2012, cụ Vũ Thị N1 đã tặng cho bà Nguyễn Thị Hồng H tài sản riêng của cụ là thửa đất số 110, tờ bản đồ số 01, diện tích đo thực tế là 132,4m² (giảm 10,6m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) tại thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; việc tặng cho quyền sử dụng đất được lập thành văn bản, công chứng tại cơ quan có thẩm quyền; bà H đã sử dụng ổn định trong nhiều năm, kê khai và được đăng ký sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/6/2012 theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông S và cụ N1 cũng thừa nhận và không có ý kiến gì về vấn đề này, nên có căn cứ xác định bà H đã là chủ sử dụng hợp pháp thửa đất số 110 nêu trên.
    2. Ông Nguyễn Trung S cho rằng mình là chủ sử dụng hợp pháp của thửa đất số 110 nêu trên vì cho rằng ngày 26/12/2013, bà H và ông S có lập và ký Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất với nội dung bà H chuyển nhượng cho ông S quyền sử dụng và quản lý đối với nhà đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 854155 do UBND huyện K cấp ngày 22/11/2010 cho cụ Vũ Thị N1. Tuy trong Giấy chuyển nhượng nêu trên không ghi rõ diện tích, số thửa, số tờ bản đồ của thửa đất nhưng căn cứ vào số và ngày cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì có đủ cơ sở khẳng định thửa đất được các bên đề cập trong giấy chuyển nhượng chính là thửa số 110, tờ bản đồ số 01, thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; bà H thừa nhận chữ ký trong giấy chuyển nhượng nêu trên là đúng chữ ký của bà.
    3. Xem xét Giấy chuyển nhượng nhà đất nêu trên thì thấy không ghi giá chuyển nhượng, phương thức, thời hạn thanh toán, không có công chứng, chứng thực là không đảm bảo đầy đủ nội dung của hợp đồng, vi phạm điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, vi phạm hình thức chuyển quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 122, khoản 2 Điều 689, Điều 698 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Phía bị đơn cho rằng mặc dù trong giấy chuyển nhượng không ghi giá trị chuyển nhượng nhưng các bên thoả thuận giá chuyển nhượng là 275.000.000 đồng và theo Giấy nhận tiền đề ngày 27/12/2013 thì bà H đã nhận 250.000.000 đồng là ông S đã thực hiện quá hai phần ba nghĩa vụ của giao dịch nên Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất giữa ông S và bà H phải được công nhận là hợp pháp. Nhưng trong Giấy nhận tiền đề ngày 27/12/2013 không nêu rõ số tiền 275.000.000 đồng là giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất; cách diễn đạt với các từ ngữ trong “Giấy nhận tiền” thể hiện bà H “nhận” của ông S số tiền 275.000.000 đồng, trong đó ngày 27/12/2013, bà H “nhận” 250.000.000 đồng, số tiền còn lại là 25.000.000 đồng trước tết ông S “trả” không phù hợp trong ngữ cảnh của một giao dịch chuyển nhượng; bà H thừa nhận có nhận của ông S 250.000.000 đồng thông qua bà H2 (chị gái bà), nhưng thực tế bà H2 chỉ đưa bà 80.000.000 đồng, số còn lại bà H2 trừ vào khoản nợ bà còn nợ bà H2, nên có cơ sở khẳng định bà H đã nhận số tiền 250.000.000 đồng của ông S có liên quan và xuất phát từ Gi ấy chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất lập ngày 26/12/2013, nhưng chưa có căn cứ xác thực các bên đã thỏa thuận thống nhất số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất nêu trên là 275.000.000 đồng. Nên mặc dù bà H đã nhận của ông S số tiền 250.000.000 đồng nhưng không đủ căn cứ xác định ông S đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch để được công nhận hiệu lực của hợp đồng trong trường hợp vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực theo khoản 2 Điều 129 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
    4. Bà H không thừa nhận việc chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất cho ông S mà cho rằng số tiền 250.000.000 đồng mà bà nhận vào ngày 27/12/2013 là tiền bà H vay của ông S, nhưng bà H không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh số tiền này là khoản tiền vay. Tuy nhiên, tại thời điểm bà H và ông S ký Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất, thửa đất trên đã được bà H chuyển nhượng cho ông Phùng Thế H3 và bà Vũ Thị Thúy H4. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H và ông H3, bà H4 được lập thành văn bản, có chứng thực của Văn phòng C vào ngày 13/12/2012. Quá trình giải quyết vụ án, bà H có ý kiến cho rằng trước khi ký giấy chuyển nhượng trên, bà H đã thông báo cho ông S biết việc thửa đất trên đã được bà H chuyển nhượng cho người khác nhưng bà H không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời khai này của mình và ông S cũng không thừa nhận lời khai trên của bà H. Việc bà H ký giấy chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất cho ông S trong khi quyền sử dụng đất đã được bà H chuyển nhượng cho người khác là vi phạm điều cấm của pháp luật. Vì vậy, theo quy định tại Điều 122, Điều 128, Điều 134 và Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì giao dịch giữa bà H với ông S không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập và Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất ngày 26/12/2013 giữa bà H và ông S là vô hiệu. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Trung S về việc đề nghị công nhận Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất ngày 26/12/2013 giữa bà H và ông S hợp pháp là có căn cứ.
    5. Chị Đỗ Hồng N cho rằng mình là chủ sử dụng hợp pháp của thửa đất số 110 nêu trên và xuất trình Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị Hồng H với chị Đỗ Hồng N lập ngày 26/8/2021, thì thấy: Bà Nguyễn Thị Hồng H đã ký Văn bản thoả thuận về việc huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 13/12/2012 với ông Phùng Thế H3, bà Vũ Thị Thúy H4 tại Văn phòng C ngày 07/5/2021, hai bên đã thống nhất hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên không còn giá trị thực hiện kể từ ngày ký văn bản thoả thuận (ngày 07/5/2021). Nên tại thời điểm (ngày 26/8/2021) bà H tặng cho chị N quyền sử dụng đất, nhà đất trên vẫn thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà H. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà H và chị N được lập thành văn bản và được công chứng tại Văn phòng C1, thành phố Hải Phòng vào ngày 27/8/2021 là đảm bảo đúng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013 và điều kiện về hình thức của giao dịch dân sự theo quy định tại khoản 2 Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015; sau khi xác lập hợp đồng, các bên đã thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai và chị N đã được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 30/11/2021. Nên theo quy định tại khoản 3 Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013, Tòa án cấp sơ thẩm xác định hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà H với chị N có hiệu lực pháp luật là có căn cứ.
    6. Tại phiên toà sơ thẩm, ông S có ý kiến trình bày trường hợp giấy chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất giữa ông S và bà H không được pháp luật công nhận tính hợp pháp, ông S đồng ý trả lại nhà đất nhưng bà H phải có nghĩa vụ bồi thường cho ông S giá trị nhà đất theo kết quả định giá tại thời điểm hiện tại. Bà H cũng có ý kiến trình bày trường hợp ông S trả lại nhà đất trên cho chị N, bà sẽ có trách nhiệm thanh toán giá trị nhà đất cho ông S theo quy định của pháp luật. Như vậy, cả ông S và bà H đều đề nghị Toà án giải quyết hậu quả trong trường hợp giấy chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất giữa các bên được xác định là vô hiệu. Như đã phân tích tại mục [2.4], Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất ngày 26/12/2013 giữa bà H và ông S vô hiệu. Theo quy định của pháp luật thì hậu quả của giao dịch vô hiệu là các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.
    7. Ông S là người trực tiếp quản lý, sử dụng nhà đất đang có tranh chấp kể từ năm 2013 đến nay; khi giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu, lẽ ra ông S phải trả lại bà H quyền sử dụng nhà đất tại thửa số số 110, tờ bản đồ số 01, thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng. Tuy nhiên, quyền sử dụng nhà đất đã được bà H tặng cho chị N; giữa bà H và chị N không ai tranh chấp về hợp đồng tặng cho này. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Hồng N về việc buộc ông Nguyễn Trung S phải trả lại chị N quyền sử dụng thửa đất trên theo kết quả đo đạc thực tế có diện tích 132,4m² và toàn bộ tài sản gắn liền với đất; đồng thời, không chấp nhận yêu cầu của ông S về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 645600, vào sổ số CS 01207 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 30/11/2021 cho chị Đỗ Hồng N là có căn cứ.
    8. Khi lập giấy chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất, bà H và ông S đều có lỗi trong việc vi phạm về nội dung và hình thức của giao dịch; ngoài ra, bà H còn có lỗi trong việc chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất cho ông S trong khi nhà đất này đã được chuyển nhượng cho người khác, vi phạm điều cấm của pháp luật. Nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định lỗi trong việc dẫn đến giao dịch vô của bà H là 60%, và của ông S là 40%; và căn cứ vào kết quả định giá, nhà đất trên có tổng giá trị là 1.755.005.000 đồng; số tiền bà H đã nhận của ông S là 250.000.000 đồng; số tiền chênh lệch là 1.505.005.000 đồng. Chia theo tỷ lệ phần trăm lỗi, bà H phải chịu 903.003.000 đồng (1.505.005.000 đồng x 60%), ông S phải chịu 602.002.000 đồng (1.505.005.000 đồng x 40%). Buộc bà H có trách nhiệm hoàn trả ông S số tiền đã nhận là 250.000.000 đồng và phải bồi thường cho ông S số tiền 903.003.000 đồng, tổng cộng là 1.153.003.000 đồng là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông S cho rằng ông không biết được thủ tục chuyển nhượng nên việc xác định lỗi của ông là 40% là không đúng và yêu cầu xác định là 20% nhưng không đưa ra được tài liệu nào làm căn cứ chứng minh cho yêu cầu của ông. Xét thấy, trước đó ông S đã phải bán nhà để trả nợ nên biết thủ tục chuyển nhượng nhà đất nhưng đã không thực hiện và yêu cầu bàn H thực hiện đúng quy định pháp luật; ông S thừa nhận sau khi viết giấy mua nhà đất của chị H đã không tiến hành kê khai, đăng ký... nên việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định mức độ lỗi của các bên như vậy là phù hợp. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông S về vấn đề này.
    9. Do yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Trung S không được chấp nhận, nên ông S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với yêu cầu công nhận giao dịch không được chấp nhận và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên giá trị tài sản phải thực hiện nghĩa vụ dựa theo mức độ lỗi của ông S dẫn đến giao dịch vô hiệu. Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu công nhận giao dịch không được chấp nhận và 28.080.080 đồng án phí trên giá trị tài sản phải thực hiện nghĩa vụ là có căn cứ.

Với các căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Nguyễn Trung S phải trả lại chị Đỗ Hồng N quyền sử dụng thửa đất số 110, tờ bản đồ số 01, thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng với diện tích đo thực tế là 132,4m² và toàn bộ tài sản gắn liền với đất; không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Trung S về việc đề nghị Tòa án công nhận Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất ngày 26/12/2013 giữa bà Nguyễn Thị Hồng H và ông Nguyễn Trung S là hợp pháp và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 645600, vào sổ số CS 01207 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 30/11/2021 cho chị Đỗ Hồng N; Buộc bà Nguyễn Thị Hồng H phải hoàn trả và bồi thường cho ông Nguyễn Trung S tổng số tiền là 1.153.003.000 đồng; ông Nguyễn Trung S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu công nhận giao dịch chuyển nhượng nhà đất không được chấp nhận và 28.080.080 đồng án phí trên giá trị tài sản phải thực hiện nghĩa vụ là đúng pháp luật.

Tại cấp phúc thẩm, không phát sinh tình tiết mới, do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn và cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

  1. Về án phí: Ông Nguyễn Trung S phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên, căn cứ khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Trung S; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 82/2024/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
  2. Về án phí: Ông Nguyễn Trung S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000649 ngày 17/9/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Xác nhận ông Nguyễn Trung S đã thi hành xong khoản tiền nộp án phí dân sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKS ND thành phố Hải Phòng;
  • - Cục THADS thành phố Hải Phòng;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ)
  • - Lưu HSVA, Phòng HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Phan Nam

CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Điều Văn Hằng Phạm Văn Lợi Nguyễn Phan Nam
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/DS-PT ngày 06/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp về đất đai, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 46/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về đất đai, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: kc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger