Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/HS-ST

Ngày: 22-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn Hoàng

Các hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Đỗ Văn Hòa
  2. Ông Nguyễn Văn Đô

- Thư ký phiên tòa: Ông Biện Anh Huy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hòa Thương - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 380/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 24/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Kim H, sinh năm: 2000 tại Bình Thuận; hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã T, Tp P, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Tuấn A và bà Nguyễn Thị C; vợ con chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo tại ngoại tại địa phương và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

* Bị hại:

Ông Trần Ngọc T, sinh năm 1980

Ông Trần Minh C1, sinh năm 1995

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, Tp P, tỉnh Bình Thuận; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 25/01/2023, sau khi đi chúc tết nhà họ hàng ở thôn T, xã T, Tp P, Trần Kim H điều khiển xe mô tô chạy đến khu vực ngã tư thuộc thôn T, xã T, Tp P thì xảy ra va chạm nhẹ với ông Trần Văn M đang điều khiển xe mô tô chở vợ là bà Nguyễn Thị H1. Ông M dừng xe lại lớn tiếng hỏi H: Mày chạy gì dữ vậy, H xuống xe nhặt một cục đá bằng nắm tay đánh vào nón bảo hiểm của ông M, làm nón bảo hiểm của ông M đang đội rớt xuống đất. H định nhặt nón bảo hiểm của ông M thì ông M chụp tay của H lại, cả hai giằng co nhau thì người dân ở gần đó can ngăn nên ông M chạy xe mô tô chở vợ về nhà. Khi về nhà, ông M kể lại sự việc cho con gái là Trần Thị Mỹ L nghe thì L gọi điện thoại cho anh trai là Trần Văn T1 và gọi cho hai chú là Trần Ngọc T và Trần Minh C1 biết.

Sau khi được can ngăn, Trần Kim H đi về nhà họ hàng ở gần đó, tại đây H biết ông M là bạn của cha H nên H chạy xe mô tô đến nhà ông M để xin lỗi. Khi H chạy xe gần đến nhà ông M thì gặp Trần Minh C1, Trần Ngọc T. C1 chặn xe mô tô của H và hỏi: Mày biết tao là ai không? H trả lời “Tao không biết mày là ai", C1 dùng tay đánh vào vùng má phải của H, làm H té ngã xuống, H liền nhặt 01 cây sắt gần đó đánh về phía C1 nhưng không trúng thì được người dân gần đó can ngăn nên H bỏ đi về nhà họ hàng.

Khi H đi được một đoạn thì Trần Văn T1 điều khiển xe mô tô chạy ngược chiều đến đụng trúng người của H, làm H ngã xuống đất, không để lại thương tích gì. H liền nhặt 01 cây gỗ có góc cạch dài khoảng 80cm dưới đất ở gần đó đánh về phía T1, T1 bỏ chạy nên không trúng. Cùng lúc này Trần Ngọc T, Trần Minh C1 chạy bộ xông đến H thì H cầm cây gỗ nhào đến đánh liên tiếp vào người của T và C1 theo nhiều hướng khác nhau thì có nhiều người dân đến can ngăn.

Trần Ngọc T và Trần Minh C1 bị thương tích được người nhà đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh B cấp cứu; ngày 20/02/2023 T và C1 có đơn yêu cầu xử lý hình sự.

Vật chứng của vụ án: Cây gỗ có góc cạnh dài khoảng 80cm do Trần Kim H sử dụng đánh T và C1, H khai: sau khi xảy ra vụ việc, H ném cây gỗ tại hiện trường và đi về nhà. Công an xã T đã truy tìm nhưng không tìm thấy.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 220/KLTTCT-TTPYBT ngày 22/3/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận thương tích của Trần Ngọc T như sau:

  1. Các kết quả chính:
    • - Vết thương phần mềm vùng đỉnh đầu đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành kích thước: 3,5 x 0,2 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1%
    • - Vết thương - chấn thương vùng vai trái gãy mỏm cùng vai trái hiện ổn định, để lại sẹo lành kích thước: 4,5 x 0,3cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 8% + 2%.
    • - Vết thương phần mềm 1/3 dưới mặt sau cẳng tay phải đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành kích thước: 2 x 1,5 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 2%
    • - Hiện không thấy gãy xương bướm trái trên phim CT-Scanner sọ - mặt. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
  2. Kết luận:
    • - Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-YT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Trần Ngọc T tại thời điểm giám định là: 13% (Một ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Kết luận khác:

  • + Các vết thương, chấn thương do vật tày có cạnh gây ra.
  • + Vết thương, vùng đỉnh đầu có chiều hướng lực tác động từ trên xuống dưới, với lực tác động nhẹ; Vết thương cẳng tay phải có chiều hướng lực tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương, với lực tác động nhẹ; Vết thương - chấn thương vùng vai trái có chiều hướng lực tác động từ trên xuống dưới, với lực tác động mạnh.
  • + Hiện tại không xác định cố tật

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 219/KLTTCT-TTPYBT ngày 22/3/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận thương tích của Trần Minh C1 như sau:

  1. Các kết quả chính:
    • - Vết thương phần mềm vùng thái dương đỉnh phải đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành kích thước: 4 x 1 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 2%.
  2. Kết luận:
    • - Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Trần Minh C1 tại thời điểm giám định là: 2% (Hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Kết luận khác:

  • + Vết thương do vật tày có cạnh gây ra.
  • + Vết thương có chiều hướng lực tác động từ trên xuống dưới, với lực tác động nhẹ.
  • + Hiện tại không xác định cổ tật.

Về trách nhiệm dân sự: Trần Kim H đã bồi thường cho Trần Minh C1 số tiền 10.000.000 đồng; bồi thường cho Trần Ngọc T số tiền 22.000.000 đồng. C1 và T đã nhận tiền, không yêu cầu về dân sự, đồng thời có đơn rút yêu cầu xử lý hình sự đối với đối với Trần Kim H.

Tại bản Cáo trạng số 201/CT-VKSPT-HS ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết quyết định, truy tố bị cáo: Trần Kim H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu quan điểm xử lý về vụ án như sau:

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Kim H, phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Trần Kim H từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù giam.

Về phần dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại và bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo không tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, theo hồ sơ đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra bị cáo, bị hại và tại phiên tòa bị cáo không thắc mắc, khiếu nại về những hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt bị hại nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, không gây trở ngại cho việc xét xử; đồng thời bị cáo và đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên tòa nên có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 25/01/2023 tại thôn T, xã T, Tp P, tỉnh Bình Thuận, Trần Kim H đã có hành vi dùng cây gỗ có cạnh dài khoảng 80cm đánh trúng vào phần mềm vùng thái dương đỉnh phải của Trần Minh C1 gây thương tích tỷ lệ 02% và đánh trúng vào phần mềm vùng đỉnh đầu, vai trái và tay phải của Trần Ngọc T gây thương tích tỷ lệ 13%.

Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi dùng cây gỗ gây thương tích cho ông T, ông C1 là nguy hiểm nhưng vẫn cố ý thực hiện, không những trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự ở địa phương. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại Điều 134 của Bộ luật hình sự. Giữa bị cáo và bị hại chỉ có mâu thuẫn nhỏ nhặt; nhưng bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác. Do đó bị cáo đã phạm tội với tình tiết định khung “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự với tỷ lệ tổn thương cơ thể cho bị hại là 13% nên đã phạm vào điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự nên cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại đã có đơn rút yêu cầu xử lý hình sự và đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo.

[5] Trên cơ sở cân nhắc tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật; đồng thời giáo dục những người khác tôn trọng pháp luật và đấu tranh phòng chống tội phạm.

Do bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, để thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước nên áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội và gia đình.

[6] Về phần bồi thường dân sự: Mặc dù bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Kim H, phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Trần Kim H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

Căn cứ: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Kim H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo bản án sơ thẩm của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; của bị hại vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND Tp Phan Thiết;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Công an Tp Phan Thiết;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - CCTHADS TPPT;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Quách Văn Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HS-ST ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về cố ý gây thương tích (hình sự)

  • Số bản án: 46/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: THƯƠNG TÍCH
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger