|
TÒA ÁN NHÂN DÂN VIỆT NAM HUYỆN BÌNH ĐẠI- TỈNH BẾN TRE Bản án số:46/2024/HS-ST Ngày: 13/12/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tuấn
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông : Bùi Tuấn Khanh.
- Ông: Nguyễn Tường Bích.
- Thư ký phiên Tòa: Ông Đạng Huỳnh Khánh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa:
Ông Đinh Bảo Quốc – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QÐST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
1. Nguyễn Văn H, sinh ngày 1912/1983; Tên gọi khác: không có; Nơi cư trú: ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Hữu H1; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không. Tuy nhiên, ngày 30/12/2021 bị Ủy ban nhân dân xã T xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi không thực hiện biện pháp bảo vệ cá nhân đối với người tham gia phòng chống dịch và người có nguy cơ mắc bệnh dịch theo hướng dẫn của cơ quan y tế.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/02/2024 cho đến nay
2. Đặng Thị Mộng X, sinh ngày 08/11/1990; Tên gọi khác: T; Nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Đạng Văn S1 và bà Nguyễn Thị L; Bị cáo chưa có chồng, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/02/2024 cho đến nay
(Cả hai bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1988 ( có mặt)
Địa chỉ: ấp V, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên Tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 20 giờ 05 phút ngày 21/12/2023, Công an xã T kiểm tra phòng thuê số 11 của nhà trọ M2 thuộc ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre, thì phát hiện 03 đối tượng gồm: Nguyễn Văn H, sinh năm 1983 nơi cư trú: ấp C, xã T; Đặng Thị Mộng X, sinh năm 1990, nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre và Phạm Chí C1, sinh năm 1988, nơi cư trú: ấp V, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm:
- - 01 chai nhựa nhãn hiệu ALOVE VERA đường kính đáy 05cm, nắp chai có màu đỏ cao 17,5cm, trên nắp chai có 02 lổ tròn; 01 ống nhựa màu trắng có chiều dài 13,5cm đường kính 0,5cm
- - 01 ống thủy tinh có dạng 01 đầu thẳng rỗng đường kính 0,5cm, 01 đầu có dạng hình phễu tròn, đường kính 1,5cm, đầu còn lại, bên trong phễu có chất rắn màu trắng nghi là ma túy, ký hiệu M1.
- - 01 túi nylon màu trắng, kích thước 2,5cm x 2,3cm hàn kín 03 phía, phía còn lại hở, ký hiệu M2.
- - 01 túi nylon màu trắng, kích thước 1,8cm x 1,7cm hàn kín 03 phía, phía còn lại hở, ký hiệu M3.
- - 01 cái kéo bằng kim loại màu trắng dài 10,5cm, ngang 4,5cm.
- - 01 bật lửa dài 12,5cm, đường kính 2,3cm, nhãn hiệu VẠN XUÂN, màu trắng.
- - 01 bật lửa màu xanh, kích thước 7,6cm x 2,5cm không nhãn hiệu.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J7 PRIME màu vàng, trên màn hình có nhiều vết nứt, số IMEI: 357625087382597 của Đặng Thị Mộng X.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu đen, màn hình cảm ứng, số IMEI 869945060827934 của Nguyễn Văn H.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI NOTE 12 PRO màu đen, màn hình cảm ứng, số IMEI 868321069892488 của Phạm Chí C1.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra xác định được như sau: vào trưa ngày 19/12/2023, Nguyễn Văn H cùng 01 người bạn tên T1 không rõ lai lịch đến chơi tại phòng số 11 nhà T thuộc ấp C, xã T do Đặng Thị Mộng X thuê. Khi vào phòng thì T1 đưa cho H 01 túi nylon chứa ma túy đá, 01 nỏ thủy tinh rồi đi về. X đưa cho H kéo kim loại, chai nhựa để H làm dụng cụ sử dụng ma túy. H lấy chai nhựa khoét 02 lổ tên nắp chai, 01 lổ ghim nỏ thủy tinh, lổ còn lại ghim ống nhựa. H lấy kéo kim loại cắt ma túy bỏ vào nỏ, dùng bật lửa làm cho ma túy nóng lên để cả H và X cùng sử dụng, số ma túy còn lại, H hàn kín túi nylon lại và cất giữ tại phòng trọ của X và không nói cho X biết. Sau đó H rút nỏ thủy tinh đem đi về, X lấy chai nhựa có gắn ống hút đem cất giữ, các đồ vật còn lại H để trong phòng của X.
Đến khoảng 19 giờ 45 phút ngày 21/12/2023, H đem theo nỏ thủy tinh đến phòng trọ của X, tìm X để tiếp tục sử dụng ma túy. X lấy chai nhựa đưa H, H lấy nỏ gắn vào chai, lấy ma túy đã cất giấu trước đó bỏ vào nỏ, dùng bật lửa để làm nóng ma túy. H gọi điện thoại cho Phạm Chí C1 đến phòng trọ của X để cả 03 cùng nhau sử dụng ma túy. C1 sử dụng trước, X chuẩn bị sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.
Theo Kết luận giám định số 1006/2023/KL-KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Kết luận:
Chất rắn màu trắng bên trong đầu phễu tròn của đoạn ống thủy tinh được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại methamphetamine; khối lượng 0,1459 gam.
Chất màu trắng dính trong 01 túi nylon màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Không cân được khối lượng do mẫu tồn tại ở dạng vết.
Túi nylon màu trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu M3 gửi giám định không tìm thấy chất ma túy.
Theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định về Danh mục chất ma túy và tiền chất thì M là chất ma túy thuộc Danh mục II các chất ma túy được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, Điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế, thú y theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.
Quá trình điều tra, các bị can đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số 42/CT-VKSBĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại truy tố bị cáo Nguyễn Văn H và Đặng Thị Mộng X về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung cáo trạng và phát biểu quan điểm luận tội và tranh luận, đề nghị như sau:
- - Về tội danh và điều khoản áp dụng: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H và Đặng Thị Mộng X phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
- - Về nhân thân của các bị cáo: Trong vụ án này, cả hai bị cáo tuy không có tiền án, tiền sự nhưng là người có nhân thân xấu. Bị cáo H ngày 30/12/2021 Bị Công an xã T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi không thực hiện biên pháp bảo vệ cá nhân đối với người tham gia chống dịch và người có nguy cơ nguy cơ mắc bệnh dịch theo hướng dẫn của cơ quan y tế (đã chấp hành xong). Bị cáo X ngày 29/5/2015 Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành Phố Hồ Chí Minh áp dung biện pháp xứ lý hành chính cai nghiện bắt buộc 12 tháng( đã chấp hành xong)
- - Về tình tiết tăng nặng: Trong vụ án này, hai bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên Tòa, hai bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.
- - Xét tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo: Thì đây là vụ án đồng phạm, có tính chất giản đơn, không có kế hoạch, bàn bạc phân công cụ thể. Trong vụ án này, bị cáo H là người giữ vai trò thực hành, cung cấp chất ma túy, nỏ thuy tinh và bặt lửa để cùng với bị cáo X sử dụng ma túy, còn bị cáo X là người giúp sức, sử dụng phòng trọ là nơi ở của mình, kéo kim loại, chai nhựa để cùng với H tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Từ những phân tích trên, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 08 (tám) năm tù đến 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/02/2024.
Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đặng Thị Mộng X mức án từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/02/2024.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 họp giấy được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh T1, Thái Trọng N, Đặng Thị Mộng X, Nguyễn Văn H, hình dấu vấn tay của Phạm Chí C1 và hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B bên trong gồm có: 01 chai nhựa nhãn hiệu ALOVE VERA đường kính đáy 05cm, nắp chai có màu đỏ cao 17,5cm, trên nắp chai có 02 lổ tròn; 01 ống nhựa màu trắng có chiều dài 13,5cm đường kính 0,5cm; 01 cái kéo bằng kim loại màu trắng dài 10,5cm, ngang 4,5cm; 01 bật lửa dài 12,5cm, đường kính 2,3cm, nhãn hiệu VẠN XUÂN, màu trắng; 01 bật lửa màu xanh, kích thước 7,6cm x 2,5cm không nhãn hiệu
- + Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu đen, màn hình cảm ứng, số IMEI 869945060827934 của bị cáo Nguyễn Văn H
- + Trả lại cho bị cáo Đặng Thị Mộng X 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J7 PRIME màu vàng, trên màn hình có nhiều vết nứt, số IMEI: 357625087382597
- + Trả lại cho Phạm Chí C1 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI NOTE 12 PRO màu đen, màn hình cảm ứng, số IMEI 868321069892488.
- + Giao cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra công an huyện B: 01 phong bì niêm phong số 1006/2023 trên phong bì có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc M1, Lê Hoàng A và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B bên trong gồm có: 01 đoạn ống thủy tinh có dạng 01 đầu thẳng rỗng, 01 đầu có dạng hình phễu tròn, ký hiệu M1; 02 túi nylon màu trắng và chất rắn màu trắng ký hiệu M1 loại methamphetamine (còn lại sau giám định) có khối lượng 0,0857 để làm cơ sở xem xét xử lý trong vụ án khác.
- Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên Tòa, bị cáo Nguyễn Văn H và Đặng Thị Mộng X trình bày như sau: Các bị cáo xác định nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố là đúng, các bị cáo thừa nhận mình có hành vi tàng tổ chức sử dụng trái phép chất ma tý như cáo trạng đã nêu. Hai bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức án thấp nhất.
Lời nói sau cùng của hai bị cáo: Cả hai bị cáo đều rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để hai bị cáo có điều kiện cải tạo trở thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, hai bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của hai bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên Tòa, bị cáo Nguyễn Văn H và Đặng Thị Mộng X đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với những tình tiết cũng như các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng, bản ảnh hiện trường, kết luận giám định chất ma túy cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Trong 02 ngày 19/12/2023 và ngày 21/12/2023, tại phòng trọ số A nhà T thuộc ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre bị cáo Nguyễn Văn H và Đặng Thị Mộng X đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine cho H và X cùng sử dụng và ngày 21/12/2023, bị cáo Nguyễn Văn H và Đặng Thị Mộng X tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho bị cáo H, bị cáo X và Phạm Chí C1 cùng sử dụng, thì bị lực lượng Công an xã T bắt quả tang thu giữ được khối lượng ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định có khối lượng 0,0857. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại truy tố bị cáo Nguyễn Văn H và Đẵng Thị Mộng X1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy, vi phạm vào những điếu cấm của Luật phòng, chống ma túy. Trước trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo là người thành niên nhận biết được ma túy là hiểm họa lớn cho xã, gây tác hại lớn cho sức khỏe của con người, làm suy thoái nòi giống, làm thay đổi về nhân cách con người, tiềm ẩn, nguy cơ phát sinh tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra tội phạm cũng như nơi các bị cáo sinh sống. Nhưng với ý thức coi thường pháp luật, động cơ thỏa mãn nhu cầu cá nhân không trong sáng, các bị cáo nhận thức được hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, vì vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện.
[4] Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là lỗi cố ý trực tiếp. Trong vụ án này hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của hai bị cáo là đồng phạm, nhưng có tính chất giản đơn, không có kế hoạch, bàn bạc phân công cụ thể.Trong vụ án này, bị cáo H là người giữ vai trò chính, là người thực hành, cung cấp chất ma túy, nỏ thuy tinh, dung cụ sử dụng ma túy, bặt lửa để cùng với bị cáo X1 sử dụng ma túy, còn bị cáo X1 là người giúp sức, sử dụng phòng trọ là nơi ở của mình, kéo kim loại, chai nhựa để cùng với H tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, hình phạt được cá thể hóa tương ứng với từng hành vi, tính chất mức độ của từng bị cáo.
[5] Về nhân thân của hai bị cáo: Tuy hai bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng hai bị cáo là người có nhân thân xấu. Bị cáo H ngày 30/12/2021 Bị Công an xã T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi không thực hiện biên pháp bảo vệ cá nhân đối với người tham gia chống dịch và người có nguy cơ nguy cơ mắc bệnh dịch theo hướng dẫn của cơ quan y tế (đã chấp hành xong). Bị cáo X1 ngày 29/5/2015 Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành Phố Hồ Chí Minh áp dung biện pháp xứ lý hành chính cai nghiện bắt buộc 12 tháng.( đã chấp hành xong). Lẽ ra, các bị cáo phải biết sửa chữa, khắc phục những lỗi lầm trước đó để trở thành người tốt, nhưng với ý thức coi thường pháp luật nên các bị cáo đã phạm tội.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, hai bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên Tòa, hai bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.
[8] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã xội, trên cơ sở xem xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nguyên nhân, động cơ và mục đích phạm tội. Xét thấy, cần thiết buộc bị cáo H và X1 phải chấp hành hình phạt tù mới có đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục hai bị cáo có ý thức trong việc tôn trọng pháp luật và đồng thời có điều kiện để hai bị cáo lao động, cải tạo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội, đồng thời góp phần trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung.
[9] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 họp giấy được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh T1, Thái Trọng N, Đặng Thị Mộng X, Nguyễn Văn H, hình dấu vấn tay của Phạm Chí C1 và hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B bên trong gồm có: 01 chai nhựa nhãn hiệu ALOVE VERA đường kính đáy 05cm, nắp chai có màu đỏ cao 17,5cm, trên nắp chai có 02 lổ tròn; 01 ống nhựa màu trắng có chiều dài 13,5cm đường kính 0,5cm; 01 cái kéo bằng kim loại màu trắng dài 10,5cm, ngang 4,5cm; 01 bật lửa dài 12,5cm, đường kính 2,3cm, nhãn hiệu VẠN XUÂN, màu trắng; 01 bật lửa màu xanh, kích thước 7,6cm x 2,5cm không nhãn hiệu
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu đen, màn hình cảm ứng, số IMEI 869945060827934 của bị cáo Nguyễn Văn H.
Trả lại cho bị cáo Đặng Thị Mộng X 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J7 PRIME màu vàng, trên màn hình có nhiều vết nứt, số IMEI: 357625087382597.
Trả lại cho Phạm Chí C1 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI NOTE 12 PRO màu đen, màn hình cảm ứng, số IMEI 868321069892488.
Giao cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra công an huyện B: 01 phong bì niêm phong số 1006/2023 trên phong bì có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc M1, Lê Hoàng A và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B bên trong gồm có: 01 đoạn ống thủy tinh có dạng 01 đầu thẳng rỗng, 01 đầu có dạng hình phễu tròn, ký hiệu M1 ; 02 túi nylon màu trắng và chất rắn màu trắng ký hiệu M1 loại methamphetamine (còn lại sau giám định) có khối lượng 0,0857 để làm cơ sở xem xét xử lý trong vụ án khác.
[10] Lời luận tội và đề nghị của Kiểm sát viên về tình tiết giảm nhẹ, mức hình phạt, xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp là có cơ sở phù hợp với pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử, nên được xem xét chấp nhận.
[11] Đối với Lượng ma túy còn lại trong nỏ thủy tinh có khối lượng 0,1459 gam, nguồn gốc số ma túy này là của 01 người tên T1 không rõ lai lịch đưa cho bị cáo H. Cơ quan điều tra đã tách hành vi của T1 để tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý về hành vi của T1 và H là phù hợp với quy định của pháp luật.
[12] Đối với chủ nhà trọ là ông Trần Văn N1 không biết các đối tượng thuê phòng để tổ chức sử dụng ma túy nên không xem xét xử lý hành vi của ông N1 là phù hợp; Phạm Chí C1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Công an xử lý xử lý vi phạm hành chính đối với C1 là phù hợp với quy định của pháp luật.
[13] Về án phí: Bị cáo H và X là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H và Đặng Thị Mộng X phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm a,b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/02/2024.
Căn cứ vào điểm a,b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đặng Thị Mộng X 07(bảy) 06(sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/02/2024.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 họp giấy được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh T1, Thái Trọng N, Đặng Thị Mộng X, Nguyễn Văn H, hình dấu vấn tay của Phạm Chí C1 và hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B bên trong gồm có: 01 chai nhựa nhãn hiệu ALOVE VERA đường kính đáy 05cm, nắp chai có màu đỏ cao 17,5cm, trên nắp chai có 02 lổ tròn; 01 ống nhựa màu trắng có chiều dài 13,5cm đường kính 0,5cm; 01 cái kéo bằng kim loại màu trắng dài 10,5cm, ngang 4,5cm; 01 bật lửa dài 12,5cm, đường kính 2,3cm, nhãn hiệu VẠN XUÂN, màu trắng; 01 bật lửa màu xanh, kích thước 7,6cm x 2,5cm không nhãn hiệu
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu đen, màn hình cảm ứng, số IMEI 869945060827934 của bị cáo Nguyễn Văn H.
Trả lại cho bị cáo Đặng Thị Mộng X 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J7 PRIME màu vàng, trên màn hình có nhiều vết nứt, số IMEI: 357625087382597.
Trả lại cho Phạm Chí C1 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI NOTE 12 PRO màu đen, màn hình cảm ứng, số IMEI 868321069892488.
Giao cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra công an huyện B: 01 phong bì niêm phong số 1006/2023 trên phong bì có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc M1, Lê Hoàng A và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B bên trong gồm có: 01 đoạn ống thủy tinh có dạng 01 đầu thẳng rỗng, 01 đầu có dạng hình phễu tròn, ký hiệu M1 ; 02 túi nylon màu trắng và chất rắn màu trắng ký hiệu M1 loại methamphetamine (còn lại sau giám định) có khối lượng 0,0857 để làm cơ sở xem xét xứ lý trong vụ án khác.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04 tháng 11 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Đại.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H và Đặng Thị Mộng X mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử theo thủ tục phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Tuấn (đã ký) |
Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 46/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H và Đặng Thị Mộng X có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
