|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 46/2024/HS-ST Ngày 12/12/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tạ Thanh Tuấn.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Lương Khoa
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Gio Linh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, Toà án nhân dân huyện Gio Linh mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 51/2024/HSST ngày 22 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 47/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024, đối với:
Bị cáo Lê Văn L
(tên gọi khác: không có), sinh ngày 10/7/1983 tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: thợ cơ khí; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hữu C và bà Dương Thị H; vợ: Võ Thị L1, sinh năm 1985 và có 02 con lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 28/11/2021, bị Công an xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 1.000.000 đồng, đã chấp hành xong ngày 24/12/2021.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q từ ngày 17/8/2024 cho đến nay; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Trương Thị Diệu H1, sinh năm 1986, trú tại: khu phố B, Phường T, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
Chị Nguyễn Thị D sinh năm 1980; trú tại: khu phố T, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 17/8/2024, Lê Văn L nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng nên đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 74C1-059.73 (thuộc sở hữu của chị Trương Thị Diệu H1, sinh năm 1986, trú tại khu phố B, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị cho chị Nguyễn Thị D sinh năm 1980, trú tại khu phố T, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị là bạn của L mượn) đến đường Đ, thuộc Phường T đứng đợi người bán ma túy như một số lần trước đó. Khoảng 15 phút sau, một người phụ nữ điều khiển xe mô tô đến (không rõ lai lịch, không nhớ loại xe, BKS), L hỏi người này mua ma túy loại hồng phiến và đưa 1.000.000 đồng. Sau khi người này nhận tiền thì mở túi xách lấy 20 viên đựng sẵn trong 02 đoạn ống nhựa để trong vỏ gói thuốc lá nhãn hiệu Phù Đổng giao cho L. Sau đó, L điều khiển xe về nhà tại thôn H, xã T, huyện T, lấy 02 viên ma túy ra sử dụng, số còn lại cất trong túi quần bên phải L đang mặc.
Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, L điều khiển xe mô tô BKS 74C1- 059.73 đi ra thị trấn C, huyện V để chơi, khi đến Quốc lộ I thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện G thì Tổ công tác Công an huyện G yêu cầu dừng xe kiểm tra, phát hiện có vật nổi cộm trong túi quần bên phải L đang mặc, nghi vấn có chứa ma túy nên Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, L đưa ra vỏ thuốc lá nhãn hiệu Phù Đổng bên trong chứa 02 đoạn ống nhựa có tổng cộng 18 viên nén màu hồng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.
Tại Bản kết luận giám định số 926/KL-KTHS ngày 23/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: “18 viên nén hình trụ tròn màu hồng được gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu là 1,7570 gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong D1 mục STT: 247 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”.
Cáo trạng số 51/CT-VKS-GL ngày 21 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh đã truy tố bị cáo Lê Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
- - Tuyên bố: bị cáo Lê Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS, xử phạt bị cáo Lê Văn L từ 17 đến 20 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 17/8/2024.
- Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự đề nghị:
Tịch thu tiêu huỷ, gồm:
- + 12 viên Methamphetamine và 0,4761g chất bột màu hồng cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong túi ký hiệu QT-S MT 652 còn lại sau giám định.
- + 01 đoạn ống nhựa màu cam dài 07cm, đường kính 0,6cm, 01 đoạn ống nhựa màu tím chiều dài 06cm, đường kính 0,6cm; 01 miếng giấy màu vàng-đỏ-đen kích thước 15,5cm x 12cm in chữ PHÙ ĐỔNG được niêm phong trong túi ký hiệu QT- S 653-SGÐ.
- - Về án phí: bị cáo Lê Văn L chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên họ đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án nên xét thấy việc vắng mặt những người này không gây trở ngại cho việc xét xử, vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiếp tục tiến hành xét xử vụ án.
[2] Nội dung vụ án và xác định tội danh:
Xét lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám xét, B niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, B1 luận giám định, lời khai của của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
Bị cáo Lê Văn L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ngày 17 tháng 8 năm 2024 bị cáo đã có hành vi mua trái phép 20 viên ma túy tổng hợp với giá 1.000.000 đồng, là ma túy loại Methamphetamine tàng trữ nhằm mục đích để sử dụng. Sau khi mua ma túy đưa về nhà L sử dụng 02 viên ma túy, số lượng còn lại là 18 viên ma túy tổng hợp có khối lượng 1,7570g Lộc tiếp tục cất giữ mục đích sử dụng. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT: 247 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Vì vậy, hành vi của bị cáo Lê Văn L đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh đã truy tố bị cáo Lê Văn L theo tội danh và điều luật viện dẫn trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo:
Hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý về các chất ma túy của Nhà nước, thể hiện sự coi thường kỷ cương pháp luật, gây mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân.
Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 28/11/2021, bị Công an xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 1.000.000 đồng, đã chấp hành xong ngày 24/12/2021; ngày 19/8/2024 Công an huyện G ban hành Quyết định số 101/QĐ-XPHC xử phạt Lê Văn L 1.500.000 đồng đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của L, thi hành xong ngày 23/10/2024.
Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên nhận thức được việc mua ma tuý tàng trữ để sử dụng là trái pháp luật, hiểu được tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội, nhưng để thỏa mãn ham muốn cá nhân nên bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm để giáo dục trực tiếp đối với bị cáo; đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra bị cáo là lao động chính trong gia đình, bố bị cáo là người có rất nhiều công lao đối với cách mạng: được hưởng các chế độ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa, chế độ người được hưởng chính sách như thương binh, được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng ba, chương kháng chiến hạng nhì, hiệu chiến sỹ T cổ nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
[5] Về hình phạt:
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS, nên cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh xử phạt bị cáo trong khoảng từ 17 đến 20 tháng tù và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Các vấn đề khác: Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo vào ngày 17/8/2024, đây là hành vi vi phạm hành chính nên ngày 19/8/2024 Công an huyện G ban hành Quyết định số 101/QĐ-XPHC xử phạt 1.500.000 đồng, đã thi hành xong ngày 23/10/2024 là đúng quy định pháp luật, Hội đồng xét xử không xem xét.
Trong vụ án này có một người phụ nữ bán ma túy cho Lê Văn L nhưng chưa điều tra được nên không xem xét, khi nào điều tra làm rõ sẽ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với các chị Trương Thị Diệu H1, Nguyễn Thị D cho L mượn xe mô tô BKS 74C1-059.73 nhưng không biết sử dụng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ một số vật chứng như mô tả và đề nghị xử lý của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử thống nhất hướng xử lý vật chứng như sau:
Tịch thu tiêu huỷ, gồm:
- + 12 viên Methamphetamine và 0,4761g chất bột màu hồng cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong túi ký hiệu QT-S MT 652 còn lại sau giám định.
- + 01 đoạn ống nhựa màu cam dài 07cm, đường kính 0,6cm, 01 đoạn ống nhựa màu tím chiều dài 06cm, đường kính 0,6cm; 01 miếng giấy màu vàng-đỏ-đen kích thước 15,5cm x 12cm in chữ PHÙ ĐỒNG được niêm phong trong túi ký hiệu QT- S 653-SGÐ.
Hiện các vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện G theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04 tháng 12 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G và Chi cục thi hành án dân sự huyện G.
[8] Về án phí:
Bị cáo Lê Văn L chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
[9] Về áp dụng biện pháp ngăn chặn căn cứ Điều 329 BLTTHS, bị cáo đang bị tạm giam bị xử phạt tù, nên Hội đồng xét xử ra Quyết định tạm giam mới đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố
bị cáo Lê Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lê Văn L 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 17/8/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự xử:
Tịch thu tiêu huỷ, gồm:
- + 12 viên Methamphetamine và 0,4761g chất bột màu hồng cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong túi ký hiệu QT-S MT 652 còn lại sau giám định.
- + 01 đoạn ống nhựa màu cam dài 07cm, đường kính 0,6cm, 01 đoạn ống nhựa màu tím chiều dài 06cm, đường kính 0,6cm; 01 miếng giấy màu vàng-đỏ-đen kích thước 15,5cm x 12cm in chữ PHÙ ĐỒNG được niêm phong trong túi ký hiệu QT- S 653-SGÐ.
Hiện các vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện G theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04 tháng 12 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G và Chi cục thi hành án dân sự huyện G.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử: bị cáo Lê Văn L phải chịu đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/12/2024), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết; riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thanh Tuấn |
Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 46/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn L tàng trữ trái phép chất ma túy
