TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2024/HS-ST Ngày: 05/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Đăng
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ ông Nguyễn Văn Dũng
2/ Bà Lâm Lệ Oanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Hứa Quốc Cường – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Vẹn – Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/HSST-QĐ ngày 26/11/2024 đối với bị cáo Lê Minh Q, sinh năm 1949; Nơi sinh: H, Kiên Giang. Nơi cư trú: Tổ E, ấp R, xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá (học vấn): 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thiệu S (chết) và bà Lâm Thị S1 (chết); vợ Nguyễn Thị L, sinh năm 1952; anh chị em ruột 03 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1966; con 07 người, lớn nhất sinh năm 1975, nhỏ nhất sinh năm 1991;
Tiền án: Không,
Tiền sự: Không;
Nhân thân: Tốt.
Bị cấm đi khỏi nơi cư trú: Từ ngày 11/5/2024 cho đến nay. (Bị cáo vắng mặt tại phiên Tòa lần 2, có đề nghị xét xử vắng mặt).
Bị hại: Nguyễn Thanh T, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Tổ E, ấp R, xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).
Người làm chứng:
- Lê Tùng M, sinh năm 1966. Địa chỉ: Tổ E, ấp R, xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt).
- Lê Mai D, sinh năm 1958. Địa chỉ: Tổ E, ấp R, xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).
- Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1956. Địa chỉ: Tổ E, ấp R, xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).
- Nguyễn Thanh B, sinh năm 1986. Địa chỉ: Tổ E, ấp R, xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bà Lê Mai D và ông Lê Tùng M là anh em ruột có nhà ở gần nhau thuộc tổ E, ấp R, xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang và cả hai đang có tranh chấp đất với nhau (nhà ông M phía trước nhà bà D). Vào khoảng 11 giờ ngày 04/3/2024 ông M đổ vỏ ghẹ tại nơi đất đang có tranh chấp gây hôi thối (nơi ông M đổ vỏ ghẹ trước nhà bà D). Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, bà D phát hiện vụ việc nên đã xảy ra cự cãi với ông M. Lúc này ông Lê Minh Q là anh ruột của bà D và ông M đi đến can ngăn, sau đó ông Q bị bà D và Nguyễn Thanh T con gái bà D chửi nói ông Q bán đất của cha mẹ để ăn thì ông Q tức giận chửi lại. Trong lúc cự cãi ông Q nhặt một khúc gỗ dài 91cm (dùng làm cán len) dọa đánh bà D và T. Nghe vậy T đi đến gần ông Q dùng tay chỉ vào đầu mình và thách thức kêu ông Q đánh. Trong lúc đang tức giận ông Q cầm khúc gỗ đánh trúng đầu T một cái gây thương tích. Sau đó T được người nhà đưa đến Trung tâm y tế thành phố H cấp cứu và chuyển đến bệnh viện đa khoa tỉnh K điều trị. Ngày 05/3/2024, T làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án và giám định thương tích.
Việc thu giữ, xử lý vật chứng:
- 01 khúc gỗ (loại dùng làm cán len), dài 91cm, chỗ rộng nhất 04 cm, một đầu vuông tròn phẳng đường kính 2,7cm, một đầu có nhiều dăm gỗ (đã qua sử dụng).
Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 266/KLTTCT-PY ngày 25/4/2024 của Trung tâm pháp y, sở y tế tỉnh K kết luận thương tích đối với Nguyễn Thanh T như sau:
1. Các dấu hiệu chính qua giám định:
+ Vết thương vùng trán, nứt sọ trán phải (vỡ thành trước xoang trán phải) tụ máu dưới màng cứng trán phải, dập não trán phải, xuất huyết dưới nhện trán hai bên, đã được điều trị ổn.
2. Kết luận:
2.1. Căn cứ vào Thông tư số 22/2019 ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thanh T tại thời điểm giám định là 28% áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
2.2. Vật gây thương tích: Vật tày có cạnh gây nên.
2.3. Về cơ chế hình thành thương tích: Thương tích ở vùng trán do vật tày tác động theo hướng từ trên xuống dưới, từ trước ra sau theo trục giải phẫu của cơ thể.
Tại bản kết luận giám định số 267/KLVGTT-PY ngày 25/4/2024 của Trung tâm pháp y, Sở y tế tỉnh K, kết luận:
1. Các kết quả chính:
- Mẫu vật (khúc gỗ) gửi giám định có dấu khúc gỗ (là dạng vật tày có cạnh).
- Thương tích ở vùng trán của Nguyễn Thanh T do vật tày có cạnh gây nên.
2. Kết luận:
Căn cứ kết quả giám định vật gây thương tích được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến, xác định: Mẫu vật (khúc gỗ) gửi giám định có thể gây được thương tích ở vùng trán của Nguyễn Thanh T.
Tại bản cáo trạng số 45/CT-VKSHT, ngày 24/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên đã truy tố bị cáo Lê Minh Q về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích tính chất và mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận hành vi của bị cáo Lê Minh Q đã có đủ các yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm o, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 điều 51, khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt bị cáo Lê Minh Q với mức án từ 1 (một) năm 6 (sáu) tháng tù đến 1 (một) năm 9 (chín) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền tổng cộng là 20.113.000₫ (Hai mươi triệu một trăm mười ba nghìn đồng) là phù hợp và bị cáo đồng ý bồi thường nên chấp nhận.
Xử lý vật chứng:
- 01 khúc gỗ (loại dùng làm cán len), dài 91 cm, chỗ rộng nhất 04 cm, một đầu vuông tròn phẳng đường kính 2,7cm, một đầu có nhiều dăm gỗ (đã qua sử dụng) đề nghị tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo vắng mặt nên không có lời nói sau cùng.
Bị hại có ý kiến: Về dân sự yêu cầu bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền thiệt hại theo yêu cầu chứ không đồng ý giảm bất kỳ số tiền nào cho bị cáo vì từ ngày bị thương tích đến nay bị hại rất khó khăn trong khi đó ông Q và gia đình ông Q không bồi thường bất kỳ đồng tiền nào cho bị cáo.
Về hình phạt: Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhưng cũng phải xử tù bị cáo mới phù hợp với hành vi của bị cáo gây thương tích cho bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng, các quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên Tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Sự vắng mặt của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo tại ngoại và đã được giao giấy triệu tập hợp lệ. Lẽ ra phải ra quyết định áp giải bị cáo đến phiên tòa để xét xử theo quy định. Tuy nhiên qua đối chiếu với quy định tại khoản 6 điều 217 Bộ luật tố tụng hình sự thì bị cáo thuộc trường hợp người già yếu nên không được dẫn giải (theo quy định của pháp luật người trên 70 tuổi là người quá già yếu, bị cáo Q hiện nay trên 70 tuổi), theo biên bản làm việc ngày 02/12/2024 bị cáo có đề nghị được xét xử vắng mặt, hơn nữa sự vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xử xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 2 điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Tại phiên tòa bị hại và người làm chứng Lê Mai D, Nguyễn Văn Ú được xét hỏi và đã trình bày lời khai của mình, ngoài ra Hội đồng xét xử công bố lời khai của bị cáo Lê Minh Q và người làm chứng Lê Tùng M, Nguyễn Thanh B cùng các tài liệu chứng cứ khác.
Qúa trình điều tra, truy tố bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, lời khai tại cơ quan điều tra, người làm chứng và các chứng cứ đã thu thập trong vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở khẳng định:
Vào khoảng 11 giờ ngày 04/3/2024 tại tổ E, ấp R, xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang do xuất phát từ mâu thuẫn tranh chấp đất giữa ông Lê Tùng M và bà Lê Mai D (là 2 người em ruột của bị cáo), trong lúc đứng ra can ngăn thì bị cháu ruột Nguyễn Thanh T (con bà D) chửi và thách thức nên Lê Minh Q đã dùng khúc gỗ dài 91cm đánh trúng đầu T một cái gây thương tích, qua kết quả giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Thanh T là 28%. Do đó hành vi của bị cáo Lê Minh Q đã vào phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
[3]. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ nhận thức để biết rằng hành vi cố ý gây thương tích cho người khác là trái pháp luật. Chỉ vì mâu thuẫn từ việc tranh chấp đất đai giữa các anh em trong gia đình mà bị cáo đã dùng khúc gỗ dài 91cm là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho Nguyễn Thanh T 28%. Hành vi của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật cố ý xâm phạm sức khỏe của người khác, làm mất an ninh, trật tự tại địa phương, hơn nữa người bị hại lại là cháu ruột của bị cáo, do đó hành vi của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi mà bị cáo đã gây ra. Ngoài ra còn nhằm mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Quá trình điều tra, truy tố và xét xử qua xem xét các tài liệu chứng cứ thấy rằng bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, thời điểm phạm tội bị cáo là người đủ 70 tuổi trở lên nên được xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm o, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra tại phiên tòa bị hại Nguyễn Thanh T có yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ phần nào hình phạt của bị cáo, nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên được áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để hạ khung hình phạt đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bồi thường thiệt hại tổng số tiền 20.113.000₫ (Hai mươi triệu, một trăm mười ba nghìn đồng). Trong đó bao gồm:
- Tiền thuốc, viện phí tại Trung tâm y tế thành phố H: 448.618 đồng có hóa đơn.
- Tiền thuốc, viện phí tại Bệnh viện đa khoa tỉnh K: 2.140.087 đồng có hóa đơn.
- Tiền thuốc sau khi xuất viện từ ngày 13/3/2024 đến ngày 05/4/2024 là 1.275.000 đồng không có hóa đơn.
- Tiền công lao động từ ngày 04/03/2024 đến ngày 19/03/2024 mỗi ngày 500.000 đồng x 15 ngày = 7.500.000 đồng không có hóa đơn.
- Tiền thuê xe chuyển viện từ H đi Rạch G là 1.200.000 đồng không có hóa đơn.
- T1 thuê xe ra viện từ Rạch G về H là 1.100.000 đồng không có hóa đơn.
- Tiền ăn uống sinh hoạt tại Trung tâm y tế thành phố H và Bệnh viện đa khoa tỉnh K là 1.450.000 đồng không có hóa đơn.
- Tiền thiệt hại về tinh thần: 5.000.000 đồng.
Với số tiền bồi thường trên: Qúa trình điều tra, truy tố bị cáo cũng đồng ý bồi thường cho bị hại nhưng nêu ra lý do hiện nay không có tiền để bồi thường cho bị hại (BL 170; 171) nên chưa bồi thường. Khoản tiền trên bị cáo đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Hội đồng xét xử thấy rằng nếu bị cáo không có tiền bồi thường thì có thể tác động gia đình (là các con của bị cáo) bồi thường cho bị hại một khoản tiền nào để giảm phần nào khó khăn bù đắp tổn thất cho bị hại.
[7] Về vật chứng vụ án: 01 khúc gỗ (loại dùng làm cán len), dài 91 cm, chỗ rộng nhất 04 cm, một đầu vuông tròn phẳng đường kính 2,7cm, một đầu có nhiều dăm gỗ (đã qua sử dụng) không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có cơ sở, phù hợp phần nào nhận định của Hội đồng xét xử, tuy nhiên mức án đề nghị đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử cần cân nhắc, quyết định mức án phù hợp đối với bị cáo.
[8] Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi nên xét được miễn án phí hình sự và án phí dân sự theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ điểm c khoản 2 điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm o, điểm s khoản 1 Điều 51 khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
- Xử phạt: Bị cáo Lê Minh Q 9 (chín) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.
2.Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các Điều 584; 585; 586 Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Lê Minh Q bồi thường thiệt hại cho bị hại Nguyễn Thanh T số tiền 20.113.000₫ (Hai mươi triệu, một trăm mười ba nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu bị cáo Lê Minh Q chậm thực hiện nghĩa vụ trả khoản tiền trên thì còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) khúc gỗ (loại dùng làm cán len) dài 91 cm, chỗ rộng nhất 04 cm, một đầu vuông tròn phẳng đường kính 2,7cm, một đầu có nhiều dăm gỗ (đã qua sử dụng). Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 18/11/2024.
4. Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T2 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
+ Bị cáo Lê Minh Q là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
5. Quyền kháng cáo: Báo cho bị hại biết có quyền kháng cáo bản án theo hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án (05/12/2024). Riêng bị cáo Lê Minh Q vắng mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Đăng |
Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 46/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH
