|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2024/HS-ST
Ngày 05-12-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Hưng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Chấn Hưng
Bà Đoàn Thị Tiến.
- Thư ký phiên toà tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Tất Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng.
- Thư ký phiên toà tại điểm cầu thành phần: Ông Tô Đình P - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lam - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an thành phố H xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024; Thông báo về việc thay đổi lịch, thời gian mở phiên toà số 41/2024/TB-HS ngày 21 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Bùi Duy T, sinh ngày 23 tháng 11 năm 1994 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn V và bà Bùi Thị L; có vợ là Khúc Quỳnh N, có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 21/6/2024 đến ngày 27/6/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Bùi Văn T1, sinh ngày 09 tháng 11 năm 1995 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn D, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn K và bà Nguyễn Thị H; có vợ là Đinh Thu H1, chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 05/9/2024; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo T: Ông Bùi Văn T2 – Luật sư Công ty L3, Đoàn Luật sư tỉnh Q; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo T1: Ông Nguyễn Anh V1 – Luật sư Công ty L4, Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.
- Người làm chứng: Anh Đoàn Văn T3, chị Khúc Quỳnh N, anh Nguyễn Văn V2, chị Bùi Thị C, anh Bùi Tiểu L1, chị Đặng Thị S; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 00 giờ 10 phút ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại quán bar R1 thuộc tổ dân phố A, thị trấn C, huyện C, Hải Phòng, Công an huyện C kiểm tra phát hiện bắt quả tang Đoàn Văn T3, sinh năm 1992; trú tại: Thôn B, xã N, huyện T, Hải Phòng đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Thu giữ trên tay T3 01 tờ tiền giấy mệnh giá 5.000 đồng, trên mặt tờ tiền có chứa tinh thể màu trắng, T3 khai tinh thể màu trắng trên tờ tiền ma túy Ketamine của Bùi Duy T đang ngồi tại bàn Vip 6 bar R đưa cho T3 để sử dụng. Tiến hành kiểm tra bàn Vip 6, Công an huyện C phát hiện 07 người gồm: Bùi Duy T, sinh năm 1994; Bùi Văn T1, sinh năm 1995; Bùi Tiểu L1, sinh năm: 1994; Khúc Q, sinh năm 1996 cùng trú tại xã N, huyện T, Hải Phòng; Nguyễn Văn V2, sinh năm 1977, trú tại: thôn C, xã T, T, Hải Phòng; Bùi Thị C, sinh năm 1988, trú tại: tổ dân phố A, thị trấn C, C, Hải Phòng; Đặng Thị S, sinh năm 1993, trú tại: thôn C, xã H, huyện C, tinh Tuyên Q đang ngồi nghe nhạc, uống bia, thu giữ trên mặt bàn nơi các đối tượng ngồi 01 cốc thủy tinh hình trụ vuông, bên trong cốc chứa chất lỏng màu đen, các đối tượng khai nhận vừa sử dụng ma túy Ketamine và thuốc lắc xong. Công an huyện C đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ 01 tờ tiền mệnh giá 5000 đồng, 01 cốc thủy tinh hình trụ vuông, bên trong cốc chứa chất lỏng màu đen, 01 bật lửa màu trắng, 01 điện thoại Iphone 12 pro màu xám của Bùi Duy T và thu giữ các mẫu nước tiểu niêm phong để tiến hành giám định.
Kết luận giám định số 811/KL-KTHS ngày 25/6/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận:
Tinh thể màu trắng của mẫu QT1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,06 gam, loại Ketamine; Chất lỏng màu đen của mẫu QT2 gửi giám định có thể tích 25ml, tìm thấy dấu vết ma túy, loại MDMA; không đủ cơ sở xác định hàm lượng, khối lượng ma túy trên; Mẫu nước tiểu ghi tên Bùi Duy T gửi giám định tìm thấy chất ma túy loại MDMA; Các mẫu nước tiểu ghi tên Đoàn Văn T3, Bùi Tiểu L1, Bùi Văn T1, Nguyễn Văn V2, Khúc Quỳnh N và Bùi Thị C gửi giám định đều tìm thấy chất ma túy loại MDMA và Ketamine; Mẫu nước tiêu ghi tên Đặng Thị S gửi giám định tìm thấy chất ma túy loại MDMA và sản phẩm chuyển hoá của chất ma túy Ketamine là D.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở tại phòng 2511 Catba Island Resort & S, thị trấn C, huyện C, Hải Phòng và chỗ ở tại thôn A, xã N, huyện T, Hải Phòng của Bùi Duy T không thu giữ tài liệu, đồ vật gì. Khám xét khẩn cấp chỗ ở tại phòng 2510 Catba
Island Resort & S, thị trấn C, huyện C, Hải Phòng của Đoàn Văn T3 và khám xét khẩn cấp chỗ ở số nhà A tổ dân phố A, thị trấn C, huyện C, Hải Phòng của Nguyễn Văn V2 không thu giữ tài liệu, đồ vật gì.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Bùi Duy T khai nhận: Ngày 10/6/2024, Bùi Duy T đến quán bar H2 tại B, Quảng Ninh chơi, T nhặt được 01 túi nilon bên trong chứa 05 viên nén màu xanh và 01 túi nilon chứa Ketamine, nên cất giấu vào trong người, T đã sử dụng một mình hết 02 viên thuốc lắc. Ngày 20/6/2024, T cùng vợ Khúc Quỳnh N, Đoàn Văn T3, Bùi Văn T1, Nguyễn Văn V2, Bùi Tiểu L1 cùng trú tại huyện T đi C du lịch, T cầm theo túi ma tuý Ketamine và 03 viên thuốc lắc cất giấu ở túi quần bên phải đang mặc. Khoảng 21 giờ tối cùng ngày sau khi ăn uống xong, T cùng T3, T1, L1 và V2 đến quán Bar R1 tại tổ dân phố A, thị trân C, C, Hải Phòng chơi. Tại bàn Vip 6, T lấy ra 03 viên thuốc lắc đưa cho T3 và T1 mỗi người một viên sử dụng hết, một viên thuốc lắc T dùng đầu chai bia có sẵn trên bàn nghiền nhỏ pha vào cốc coca đưa mời L1 uống, L1 uống xong đưa cho T, T tiếp tục mời V2 uống, V2 uống rồi đưa cho T, T uống một ít và để cốc coca xuống bàn. Sau đó, T lấy túi Ketamine và lấy tờ tiên mệnh giá 5.000 đồng mở ra rồi dùng bật lửa nghiền mịn. Sau khi nghiền xong T đưa ma túy cho T1, T1 vỗ vai T3 đi vào nhà vệ sinh, sau đó T1 cầm tờ tiền đưa lại cho T, một lúc sau T1 đưa tay về phía T, T đưa cho T1 tờ tiền 5000 đồng và đi về hướng nhà vệ sinh sau đó đưa lại cho T, T để tờ tiền xuống bàn. Trong lúc ngồi uống bia nghe nhạc có Khúc Quỳnh Nhu vợ T, Bùi Thị C bạn của V2 và Đặng Thị S nhân viên quán đến ngồi cùng, còn mọi người có sử dụng ma túy hay không thì T không biết. Đến khi T đưa cho T3 tờ tiền 5000đ, T3 cầm vào nhà vệ sinh được một lúc thì bị Công an huyện C bắt quả tang, thu giữ 01 tờ tiền 5000 đồng bên trong có chứa chất bột màu trắng là Ketamine; 01 cốc thuỷ tinh bên trong là nước Cocacola, 01 điện thoại Iphone 12 Pro màu xám của T.
Bùi Văn T1 khai nhận: Tối ngày 20/6/2024, T1 cùng Bùi Duy T, Đoàn Văn T3, Bùi Tiểu L1 đến quán bar R1 chơi. Sau đó Nguyễn Văn V2 cùng đến chơi, ngồi một lúc T đưa cho T1 và T3 mỗi người một viên thuốc lắc, T1 và T3 đã sử dụng hết. Một lúc sau, T đưa cho T1 tờ tiền gấp nhỏ mệnh giá 5000 đồng bên trong có ma túy Ketamine. T1 vỗ vai Đoàn Văn T3 vào nhà vệ sinh sử dụng ma túy, T1 sử dụng ma túy trước sau đó đưa ma túy cho T3 sử dụng, T3 sử dụng xong đưa lại cho T1, T1 câm tờ tiền đem vê bàn Vip 6 đưa lại cho T. Một lúc sau T1 muốn sử dụng ma túy, nên T1 đưa tay về phía T, T hiểu ý, nên đưa tờ tiền 5000đ cho T1, T1 cầm ma túy vào nhà vệ sinh sử dụng rồi cầm tờ tiền ra đưa cho T và ngồi nghe nhạc. Sau đó Khúc Quỳnh N, Bùi Thị C, Đặng Thị S đến bàn Vip6 ngồi chơi cùng. Đến khoảng 00h10' ngày 21/6/2024 thì bị Công an huyện C bắt quả tang thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Đoàn Văn T3 khai nhận: Tối 20/6/2024 T3 cùng với Bùi Duy T, Bùi Văn T1, Bùi Tiểu L1 đền R1 chơi, tại quán bar T3 được T đưa cho 01 viên thuốc lắc đề sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy xong, T1 đứng dậy vỗ vai T3 rủ vào nhà vệ sinh để sử dụng ma túy. T1 cầm tờ tiền mệnh giá 5000đ gấp nhỏ bên trong chưa ma túy mở ra sử dụng trước và đưa cho ma túy cho T3 sử dụng, T3 sử dụng xong đưa tờ tiền lại cho T1 và quay lại bàn. Mọt lúc sau, T3 muốn sử dụng ma túy, nên bảo T đưa cho tờ tiền 5000đ, T3 cầm ma túy vào nhà vệ sinh sử dụng xong thì bị Công an huyện C bắt quả tang.
Bùi Tiểu L1, Nguyễn Văn V2, Khúc Quỳnh N, Bùi Thị C, Đặng Thị S đều khai nhận: Tối ngày 20/6/2024 L1, V2, C, N và S là nhân viên quán bar đến bàn V ngồi nghe nhạc. T mời L1, V2 uống Coca bên trong có ma túy thuốc lắc, còn N, C, S tự lấy cốc coca có chứa ma túy thuốc lắc do T pha sẵn uống. Sau đó L1, V2, N, C, S tự lấy tờ tiền mệnh giá 5000 đồng có chứa ma túy Ketamine ở bàn tự sử dụng. Cả nhóm ngồi nghe nhạc đến 00h10' ngày 21/6/2024 thì bị Công an huyện C bắt quả tang.
Lời khai của Bùi Duy T phù hợp với lời khai của Bùi Văn T1 phù hợp với lời khai của những người làm chứng Đoàn Văn T3, Bùi Tiều L2, Nguyễn Văn V2, Khúc Quỳnh N, Bùi Thị C, Đặng Thị S, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bản Cáo trạng số 41/CT-VKS ngày 24/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Bùi Duy T về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự và Bùi Văn T1 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày quan điểm luận tội: Giữ nguyên nội dung truy tố Bùi Duy T về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Bùi Văn T1 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự, đồng thời phân tích hành vi, vai trò, nhân thân, hoàn cảnh phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo (bổ sung tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T) và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 251; Điều 17; Điều 38; Điều 54; Điều 58; điểm v, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Duy T từ 05 (năm) năm đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù; Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn T1 từ 24 (hai mươi bốn) tháng đến 30 (ba mươi) tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, vì các bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 bật lửa màu trắng; 01 cốc thủy tinh hình trụ vuông; Tịch thu, phát mại sung vào ngân sách nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 5.0000đ. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Sau khi nghe luận tội:
Người bào chữa cho bị cáo Bùi Duy T trình bày ý kiến tranh luận, bào chữa: Đồng ý với tội danh, điều luật áp dụng của đại diện Viện Kiểm sát; về tình tiết giảm nhẹ: đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự do bị cáo tích cực, thành khẩn khai báo giúp cơ quan tố tụng nhanh chóng giải quyết vụ án và đề nghị áp dụng tình tiết phạm tội lần đầu theo điểm 1 khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo; bị cáo phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhưng là giản đơn, mang tính bột phát nên đề nghị Hội động xét xử xử mức án thấp nhất.
Người bào chữa cho bị cáo Bùi Văn T1 trình bày ý kiến tranh luận, bào chữa: Đồng ý với tội danh, điều luật áp dụng của đại diện Viện Kiểm sát, song phân tích
hành vi của bị cáo T1 sau khi nhận tờ tiền có ma túy từ bị cáo T, bị cáo T1 đi qua chỗ T3 ngồi, vỗ vai T3, cả hai đi vào nhà vệ sinh cùng sử dụng ma túy. Như vậy bị cáo không có sự bàn bạc, phân công mà chỉ có hành vi vỗ vai T3 nên khởi tố bị cáo về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với mức án 2 năm là quá nghiêm khắc chưa thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Ý kiến đối đáp của Kiểm sát viên đối với quan điểm của người bào chữa cho bị cáo T: Bị cáo đã được xem xét áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo nên không có căn cứ áp dụng tình tiết theo điển t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tình tiết phạm tội lần đầu chỉ được xem xét đối với tội phạm ít nghiêm trọng.
Ý kiến đối đáp của Kiểm sát viên đối với quan điểm của người bào chữa cho bị cáo T1: Hành vi cung cấp ma túy để T1 tổ chức cho T4 sử dụng đã là đồng phạm và mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị từ khởi điểm của khung hình phạt đã thể hiện đầy đủ tính khoan hồng của phát luật đối với bị cáo.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa. Tại lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải và những người tiến hành tố tụng của các cơ quan trên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, vật chứng thu được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Ngày 21/6/2024, tại quán bar R1, thị trấn C, huyện C, Hải Phòng, Bùi Duy T có hành vi cung cấp chất ma túy loại MDMA và Ketemine để tổ chức cho Bùi Văn T1, Đoàn Văn T3, Bùi Tiểu L1, Nguyễn Văn V2, Khúc Quỳnh N, Bùi Thị C và Đặng Thị S sử dụng trái phép. Ngoài ra Bùi Duy T còn có hành vi cung cấp chất ma túy Ketamine để Bùi Duy T5 tổ chức cho Đoàn Văn T3 sử dụng trái phép. Như vậy hành vi của bị cáo Bùi Duy T, Bùi Văn T1 đã phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 255 của Bộ luật Hình sự
[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Bùi Duy T có hành vi cung cấp chất ma túy cho nhiều người sử dụng trái phép nên phải chịu tình tiết định khung hình phạt là “Đối với 02 người trở lên” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Bùi Văn T1 sau khi sử dụng trái phép chất ma túy do Bùi Duy T cung cấp đã tổ chức cho Đoàn Văn T3 sử dụng trái phép nên hành vi của bị cáo vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện Kiểm
sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng trên là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.
[4] Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi tổ chức trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe của người khác nên cần phải xử lý nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng để giáo dục cải tạo các bị cáo.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo T có thời gian tham gia nghĩa vụ Công an được tặng Bằng khen của Tư lệnh cảnh sát cơ động – Bộ C1, có ông nội được tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ nên bị cáo được hưởng tình tiếp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về quyết định mức hình phạt: Bị cáo Bùi Duy T là người cung cấp, chuẩn bị dụng cụ, phương tiện tổ chức cho nhiều người sử dụng trái phép; bị cáo Bùi Văn T1 sau khi được cung cấp ma túy sử dụng lại tổ chức cho người khác sử dụng trái phép, việc bị cáo T1 tổ chức cho người khác sử dụng trái phép, bị cáo T tuy không biết nhưng ma túy là do bị cáo T cung cấp nên các bị cáo phạm tội là đồng phạm, nhưng là đồng phạm giản đơn, không có chủ mưu, bàn bạc, phân công nhau. Các bị cáo có mối quan hệ họ hàng, những người các bị cáo tổ chức cho sử dụng trái phép chất ma túy là anh em, người thân, bạn bè thân thiết, do tò mò, bột phát, thích thể hiện dẫn đến phạm tội. Xét bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong thời gian tham gia nghĩa vụ Công an được tặng Bằng khen của Tư lệnh cảnh sát cơ động thể hiện bị cáo có phấn đấu, rèn luyện nên cần xem xét áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng hình phạt dưới khung hình phạt; bị cáo Bùi Văn T1 hưởng mức khởi điểm theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cũng đủ sức răn đe giáo dục các bị cáo, thể hiện được chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[9] Về ý kiến tranh luận của người bào chữa cho bị cáo Bùi Duy T đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự do bị cáo tích cực, thành khẩn khai báo giúp cơ quan tố tụng nhanh chóng giải quyết vụ án và đề nghị áp dụng tình tiết phạm tội lần đầu đối với bị cáo. Xét bị cáo đã được xem xét áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo nên không có căn cứ áp dụng tình tiết
theo điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; đối với tình tiết phạm tội lần đầu chỉ được xem xét đối với tội phạm ít nghiêm trọng. Vì vậy ý kiến của người bão chữa cho bị cáo T không có căn cứ chấp nhận.
[10] Về xử lý vật chứng: Các cụng cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với tờ tiền 5.000đ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu để nộp vào ngân sách Nhà nước,
[11] Về án phí hình sự: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[12] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; Điều 54; Điều 58; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố bị cáo Bùi Duy T phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy",
Xử phạt bị cáo Bùi Duy T 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày ngày 21 tháng 6 năm 2024.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T1 phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy",
Xử phạt bị cáo Bùi Văn T1 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam, ngày 05 tháng 9 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 bật lửa màu trắng; 01 cốc thủy tinh hình trụ vuông.
- - Tịch thu, sung ngân sách nhà nước đối với 01 tờ tiền mệnh giá 5.000đ.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cát Hải).
Về án phí hình sự: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Hưng |
Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 46/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Duy T-Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
