Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN MÔ-TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HS – ST

Ngày 27/11/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ - TỈNH NINH BÌNH.

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cử, ông Lê Xuân Cung.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Huệ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 46/2024/TLST - HS, ngày 12 tháng 11 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Hải Tuấn H, sinh ngày 28/03/2007 (Tính đến ngày phạm tội bị cáo 16 năm 11 tháng 03 ngày tuổi), tại tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: xóm A, xã Y, huyện K, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H1 và bà Đinh Thị H2; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không
  2. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

    Người bào chữa cho bị cáo: bà Bùi Thị Thanh T (vắng mặt), bà Đoàn Thị H3 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (có mặt).

    Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: ông Phạm Văn H1, sinh năm: 1985, bà Đinh Thị H2, sinh năm: 1989 (Bố mẹ bị cáo) (ông H1, bà H2 ủy quyền cho bà Phạm Thị N, sinh năm 1982 tham gia tố tụng).

    Nơi cư trú: xóm B, xã Y, huyện K, tỉnh Ninh Bình (có mặt).

  3. Vũ Văn D, sinh ngày 15/05/2006 (Tính đến ngày phạm tội bị cáo 17 năm 09 tháng 16 ngày tuổi), tại tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: xóm A, xã L, huyện K, Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không.
  4. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

    Người bào chữa cho bị cáo: bà Bùi Thị Thanh T (vắng mặt), bà Đoàn Thị H3- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (có mặt).

    Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: ông Vũ Văn T1, sinh năm 1980 (vắng mặt); bà Nguyễn Thị T2, sinh năm: 1979 (có mặt).

    Nơi cư trú: xóm A, xã L, huyện K, Ninh Bình (có mặt).

  5. Lưu Tuấn A, sinh ngày 29/10/2006 (Tính đến ngày phạm tội bị cáo 17 năm 04 tháng 02 ngày tuổi), tại tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: xóm D, xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn K và bà Nguyễn Thị L; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không
  6. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

    Người bào chữa cho bị cáo: bà Bùi Thị Thanh T (vắng mặt), bà Đoàn Thị H3- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (có mặt).

    Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: ông Lưu Văn K, sinh năm 1972 (có mặt); bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1976 (vắng mặt).

    Nơi cư trú: xóm D, xã L, huyện K, Ninh Bình (có mặt).

  7. Mai Xuân T3, sinh ngày 27/03/2007 (Tính đến ngày phạm tội bị cáo 16 năm 11 tháng 06 ngày tuổi), tại tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: xóm A, xã L, huyện K, Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn T4 và bà Vũ Thị T5; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không
  8. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).

    Người bào chữa cho bị cáo: bà Bùi Thị Thanh T (vắng mặt), bà Đoàn Thị H3- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (có mặt).

    Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: ông Mai Văn T4 (vắng mặt), sinh năm 1968; bà Vũ Thị T5, sinh năm: 1969 (có mặt).

    Nơi cư trú: xóm A, xã L, huyện K, Ninh Bình (có mặt).

  9. Phạm Thế A1, sinh ngày 6/11/2006 (Tính đến ngày phạm tội bị cáo 16 năm 03 tháng 07 ngày tuổi), tại tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: xóm B, xã L, huyện K, Ninh Bình; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C và bà Phan Thị D1; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.
  10. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).

    Người bào chữa cho bị cáo: ông Trần Duy H4- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (có mặt).

    Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: ông Phạm Văn C, sinh năm 1976 (có mặt), bà Phan Thị D1, sinh năm 1982 (vắng mặt).

    Nơi cư trú: xóm B, xã L, huyện K, Ninh Bình.

  11. Trần Minh Q, sinh ngày 31/10/2006 (Tính đến ngày phạm tội bị cáo 16 năm 04 tháng tuổi), tại tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: xóm A, xã L, huyện K, Ninh Bình; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H5 và bà Nguyễn Thị L1; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.
  12. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).

    Người bào chữa cho bị cáo: ông Trần Duy H4- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (có mặt).

    Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: ông Trần Văn H5 (vắng mặt), bà Nguyễn Thị L1 (có mặt).

    Nơi cư trú: xóm A, xã L, huyện K, Ninh Bình.

  13. Trần Anh H6, sinh ngày 25/11/2007 (Tính đến ngày phạm tội bị cáo 16 năm 03 tháng 07 ngày tuổi), taị tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ và bà Nguyễn Thị Đ1; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.
  14. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).

    Người bào chữa cho bị cáo: ông Trần Duy H4, bà Phạm Thị M- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (có mặt).

    Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: ông Trần Văn Đ (có mặt), bà Nguyễn Thị Đ1 (vắng mặt).

    Nơi cư trú: thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án

  1. Cháu: Trần Hoàng N1, sinh ngày 24/08/2009
  2. Nơi cư trú: xóm E, xã T, huyện K, tỉnh Ninh Bình (có mặt).

    Người đại diện hợp pháp cho cháu N1, đồng thời là người có quyền lợi liên quan đến vụ án: ông Trần Văn C1, sinh năm 1985 (có mặt), bà Hoàng Thị H7, sinh năm 1990 (vắng mặt).

    Nơi cư trú: xóm E, xã T, huyện K, tỉnh Ninh Bình.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu N1: bà Bùi Thị Thanh T (vắng mặt), bà Đoàn Thị H3- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (có mặt).

  3. Cháu: Trần Thế B, sinh ngày 24/01/2009 (có mặt).
  4. Nơi cư trú: xóm V, xã T, huyện K, tỉnh Ninh Bình.

    Người đại diện hợp pháp cho cháu B: ông Trần Văn B1, sinh năm 1986, ( có mặt), bà Nguyễn Thị D2, sinh năm 1987 (vắng mặt).

    Nơi cư trú: xóm V, xã T, huyện K, tỉnh Ninh Bình.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu B: bà Bùi Thị Thanh T (vắng mặt) bà Đoàn Thị H3- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (có mặt).

  5. Cháu: Trần Trọng P, sinh ngày 20/04/2008
  6. Nơi cư trú: xóm D, xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình (có mặt).

    Người đại diện hợp pháp cho cháu P: ông Trần Văn T6, sinh năm 1982 (vắng mặt), bà Phạm Thị G, sinh năm 1983 (có mặt).

    Nơi cư trú: xóm D, xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu P: bà Bùi Thị Thanh T (vắng mặt), bà Đoàn Thị H3- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (có mặt).

  7. Cháu: Nguyễn Thạch Bảo N2, sinh ngày 07/10/2008 (có mặt).
  8. Nơi cư trú: xóm I, xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình.

    Người đại diện hợp pháp cho cháu N2: ông Nguyễn Văn T7, sinh năm 1970 (có mặt), bà Trần Thị K1, sinh năm 1973 (vắng mặt)

    Nơi cư trú: xóm I, xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu N2: bà Phạm Thị M- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (có mặt).

  9. Cháu: Lê Tuấn A2, sinh ngày 21/09/2008 (vắng mặt).
  10. Nơi cư trú: xóm I, xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình.

    Người đại diện hợp pháp cho cháu A2, đồng thời là người có quyền lợi liên quan đến vụ án: ông Lê Viết Đ2, sinh năm 1981, bà Tống Thị N3, sinh năm 1985 (vắng mặt)

    Nơi cư trú: xóm I, xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu A2: bà Bùi Thị Thanh T(vắng mặt), bà Đoàn Thị H3- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (có mặt).

  11. Cháu: Huỳnh Tiến T8, sinh ngày 21/01/2009 (vắng mặt).
  12. Nơi cư trú: xóm D, xã T, huyện K, tỉnh Ninh Bình.

    Người đại diện hợp pháp cho cháu T8, đồng thời là người có quyền lợi liên quan đến vụ án: ông Huỳnh Tiến T9, sinh năm 1977, bà Trần Thị T10, sinh năm 1985 (vắng mặt).

    Nơi cư trú: xóm D, xã T, huyện K, tỉnh Ninh Bình.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu T8: ông Phạm Duy H8- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (có mặt).

  13. Cháu: Vũ Đức T11, sinh ngày 22/05/2009 (vắng mặt).
  14. Nơi cư trú: xóm D, xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình.

    Người đại diện hợp pháp cho cháu T11: ông Vũ Đức H9, sinh năm 1973, bà Trần Thị Ánh T12, sinh năm 1983 (vắng mặt).

    Nơi cư trú: xóm D, xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu T11: ông Phạm Duy H8- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (có mặt).

  15. Cháu: Trần Trí H10, sinh ngày 30/06/2008 (có mặt).
  16. Nơi cư trú: xóm A, xã Q, huyện K, tỉnh Ninh Bình.

    Người đại diện hợp pháp cho cháu H10, đồng thời là người có quyền lợi liên quan đến vụ án: ông Trần Anh N4, sinh năm 1990, bà Trần Thị Huyền T13, sinh năm 1989 (có mặt)

    Nơi cư trú: xóm A, xã Q, huyện K, tỉnh Ninh Bình.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu H10: ông Phạm Duy H8- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (có mặt).

  17. Cháu: Tạ Anh T14, sinh ngày 07/02/2007 (vắng mặt).
  18. Nơi cư trú: xóm B N, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.

    Người đại diện hợp pháp cho cháu T14: ông Tạ Văn L2, sinh năm 1974, bà Mã Thị H11, sinh năm 1974 (vắng mặt)

    Nơi cư trú: xóm B N, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình

  19. Cháu: Phạm Tiến Q1, sinh ngày 14/02/2007 (vắng mặt).
  20. Nơi cư trú: xóm B N, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.

    Người đại diện hợp pháp cho cháu Q1: ông Phạm Văn L3, sinh năm 1972, bà Nguyễn Thị H12, sinh năm 1974 (vắng mặt)

    Nơi cư trú: xóm 2 Ngọc Lâm, xã Yên Lâm, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình

  21. Cháu: Mã Quang H13, sinh ngày 04/12/2007 (vắng mặt)
  22. Nơi cư trú: xóm B N, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình

    Người đại diện hợp pháp cho cháu H13: ông Mã Văn H14, sinh năm 1987, bà Hoàng Thị H15, sinh năm 1989 (vắng mặt).

    Nơi cư trú: xóm B N, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình

  23. Cháu: Nguyễn Thành T15, sinh ngày 05/9/2006 (vắng mặt).
  24. Nơi cư trú: xóm B N, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình

    Người đại diện hợp pháp cho cháu T15: ông Nguyễn Quốc C2, sinh năm 1980, bà Vũ Thị S, sinh năm 1984 (vắng mặt).

    Nơi cư trú: xóm B N, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình

  25. Cháu Tống Đức K2, sinh ngày 11/11/2008 (vắng mặt).
  26. Nơi cư trú: xóm B N, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình

    Người đại diện hợp pháp cho cháu K2: ông Tống Văn T16, sinh năm 1987, bà Tống Thị L4, sinh năm 1989 (vắng mặt).

    Nơi cư trú: xóm B N, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.

  27. Anh Đàm Thanh L5, sinh ngày năm 2005 (vắng mặt).
  28. Nơi cư trú: xóm B N, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.

  29. Ông Đàm Văn T17, sinh năm 1976; bà Phạm Thị H16, sinh năm 1980
  30. Nơi cư trú: xóm B N, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).

  31. Cháu: Nguyễn Hoàng M1, sinh ngày 28/06/2008 (vắng mặt)
  32. Nơi cư trú: xóm B N, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình

    Người đại diện hợp pháp cho cháu M1, đồng thời là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn T18, sinh năm 1988, bà Tống Thị M2, sinh năm 1988 (vắng mặt).

    Nơi cư trú: xóm B N, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu M1: bà Phạm Thị M- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (có mặt).

  33. Cháu: Nguyễn Tiến T19, sinh ngày 06/04/2008 (vắng mặt).
  34. Nơi cư trú: xóm B N, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình

    Người đại diện hợp pháp cho cháu T19, đồng thời là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ông Nguyễn Văn L6, sinh năm 1982, bà Trịnh Thị P1, sinh năm 1986 (vắng mặt).

    Nơi cư trú: xóm B N, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu T19: bà Phạm Thị M- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mâu thuẫn từ trước giữa Lưu Tuấn A, Trần Hoàng N1, sinh ngày 24/8/2009 trú tại xóm E, xã T, huyện K, Trần Thế B sinh ngày 24/01/2009 trú tại xóm V, xã T, huyện K với nhóm thanh niên xã Y, huyện Y nên sáng ngày 02/03/2024 Lưu Tuấn A nói với Vũ Văn D về việc mâu thuẫn trên thì D hẹn tối đến Yên M mục đích tìm nhóm thanh niên xã Y giải quyết mâu thuẫn. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, nhóm của Lưu Tuấn A gồm: Vũ Văn D; Phạm Thế A1; Trần Hoàng N1; Trần Thế B; Nguyễn Thạch Bảo N2 sinh ngày 07/10/2008 trú tại xóm I, xã L, huyện K; Trần Trọng Phát sinh ngày 20/04/2008 trú tại xóm D, xã L, huyện K và Trần Trí H10 sinh ngày 30/06/2008 trú tại xóm C, xã Q, huyện K đi trên 04 xe mô tô đến khu vực xã Y để tìm nhóm thanh niên Y. Khi đến đây nhóm thanh niên Yên Lâm gồm: các anh Tạ Anh T14 sinh năm 2007, Phạm Tiến Q1 sinh năm 2007, Tống Đức K2 sinh năm 2008, Mã Quang H13 sinh năm 2007, Nguyễn Hoàng M1 sinh năm 2006, Nguyễn Tiến T19 sinh năm 2008, Tạ Duy L7 sinh năm 2007, Tống Xuân V sinh năm 2009 và Tống Văn M3 sinh năm 2006 cùng trú tại N, xã Y, huyện Y đang ngồi chơi tại khu vực ghế đá thuộc xóm B, N xã Y, huyện Y. Khi thấy nhóm thanh niên Y thì nhóm của Lưu Tuấn A có những lời nói chửi tục, dọa đánh thì cả nhóm Yên L8 bỏ chạy. Trên đường đi về huyện K thì D nói với cả nhóm “Anh em mua phóng về để tao hàn, hôm sau lên Y đánh chúng nó ” thì tất cả đồng ý.

Đến sáng ngày 03/03/2024, Lưu Tuấn A, Q, D, P đến quán B3 ở thị trấn P, huyện K chơi. Quá trình chơi B2-A thì Lưu Tuấn A nói “Chiều nay xuống Y anh em góp tiền mua đồ” thì cả nhóm đồng ý. Đến chiều cùng ngày, Nguyễn Thạch Bảo N2, Trần Trí H10, Phạm Thế A1 và Trần Hoàng N1 lần lượt đến chơi tại quán B3. Tại đây, D nói với Lưu Tuấn A: “Bây giờ hàn phóng như thế nào, bao giờ hàn?”, Lưu Tuấn A nói “Có hàn nhưng chưa có tiền nên chưa mua được, giờ chưa có tiền để bọn anh kiếm, góp tiền vào mua”. Thấy Tuấn A nói vậy thì N1 nói “Giờ em đang có 200.000 đồng ở đây để em bỏ ra mua luôn”. Sau đó, N1 chở D đi đến nhà Trần Thế B đón B rồi cả ba đi đến chợ N5, thị trấn P mua 02 chiếc dao dạng dao bầu rồi quay lại quán B4. Tại đây, D ở lại quán chơi còn N1 và B tiếp tục đi đến khu vực cầu L, thị trấn P mua tiếp 02 tuýp sắt dài khoảng 1,5m rồi lại quay lại quán B4. Lúc này Thế Al nói “Sao mua 1,5m làm gì, không mua loại 2 đến 3m cầm cho sướng”, nghe vậy thì N1 và B đi mua thêm 2 tuýp sắt dài khoảng 2m nữa rồi quay lại quán B4 - a, N1 ôm 04 tuýp sắt cùng 02 dao bầu cất vào mé bờ sông đối diện quán B4 rồi tiếp tục chở N2 về nhà N2 lấy 01 đinh ba sau đó quay lại quán. Lúc này do không có đồ để hàn dao phóng nên N1, B và Lưu Tuấn A mang tuýp sắt, dao bầu và đinh ba đi ra quán sửa xe tìm người hàn nhưng không được thì quay lại quán. Sau đó Q đi đến cửa hàng cơ khí của anh Nguyễn Văn H17 sinh năm 1988 tại thị trấn P, huyện K mượn máy hàn. Q cầm máy hàn quay về quán thì cả nhóm thống nhất cầm hung khí đến nhà Phạm Hải Tuấn H ở xóm A, xã Y, huyện K để hàn. Ngay sau đó Lưu Tuấn A điều khiển xe chở B cầm 04 tuýp sắt, Q điểu khiển xe chở N1 cầm theo máy hàn và 02 dao bầu cùng đến nhà H. Đến nhà H thì N1 bảo Q quay lại đón D. Tại nhà H, D tự hàn 02 dao bầu vào 02 tuýp sắt 02m (phóng lợn), 01 đinh ba hàn vào tuýp sắt 1,5m, còn lại 01 tuýp sắt 1,5m không hàn gì. Sau khi hàn xong, H dựng toàn bộ hung khí hàn được ở khu để xe nhà H. Cùng lúc này, B gọi điện rủ Mai Xuân T3 đi lên huyện Y để đánh nhau thì T3 rủ thêm Huỳnh Tiến T8 sinh ngày 21/01/2009 trú tại xóm D, xã T, huyện K và Vũ Đức T11 sinh ngày 22/05/2009 trú tại xóm D, xã L, huyện K đi cùng. Sau khi T3 rủ thì T8 và T11 xuống bếp nhà T8, T8 lấy 02 chiếc dao còn T11 lấy 01 chiếc dao (dạng dao phay), T11 quấn 03 chiếc dao vào trong vỏ gối màu đỏ rồi đưa cho T8 cất giấu trong người rồi đi đến nhà H.

Đến khoảng 19 giờ 30 cùng ngày P rủ thêm Trần Anh H6, H rủ thêm Lê Tuấn A2 sinh ngày 21/09/2008 trú tại xóm I, xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình đến nhà H. Tại nhà H lúc này có 12 người gồm: H, Lưu Tuấn A, Lê Tuấn A2, N1, P, B, D, Q, H6, T8, T3 và T11, cả nhóm thống nhất đi đến huyện Y tìm đánh nhóm thanh niên xã Y. Sau đó N1 đi vào khu để xe của nhà H lấy toàn bộ số hung khí Duy hàn mang ra đưa cho B 01 tuýp sắt, đưa cho H 01 phóng lợn còn N1 cầm 01 đinh ba hàn tuýp sắt và 01 phóng lợn, T8 vẫn giấu 03 chiếc dao ở trong người. Cũng trong thời gian này H10 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS 35K1-256.53 từ nhà đến đón N2 và Phạm Thế A1 rồi cả ba đi đến khu vực bến xe L đứng chờ cả nhóm. Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 35K1-288.01 chở H6 và N1 ngồi sau cầm đinh ba và 01 phóng lợn, T3 điều khiển xe BKS 35K1-068.11 chở theo T11 và T8 ngồi sau cầm theo 03 chiếc dao giấu trong người, D điều khiển xe mô tô BKS 35B1-640.51 chở P, Lưu Tuấn A điều khiển xe mô tô màu sơn trắng không đeo biển kiểm soát chở B ngồi sau cầm tuýp sắt, Lê Tuấn A2 điều khiển xe mô tô không đeo biển kiểm soát màu sơn đen chở H ngồi sau cầm 01 phóng lợn. Cả nhóm đi từ nhà H theo Quốc lộ A đến xã Y, huyện Y tìm nhóm thanh niên Yên L8. Lúc này Thế A1, N2 và H10 đang đứng chờ ở khu vực bến xe L thấy nhóm của mình đi qua thì Thế A1 điều khiển xe chở N2 và H10 đi theo. Khi cả nhóm đi đến đoạn đường quốc lộ 12B cách bến xe L khoảng 400m, cả nhóm dừng lại, T11 mở cốp xe lấy túi khẩu trang đưa cho N1 và P để che biển số xe, T11 tự cầm khẩu trang che biển xe của T8, N2 lột miếng dán quảng cáo ở cột điện dán vào biển số xe của H10, xe của H và Lưu Tuấn A là không có biển. Khi này N1 đưa cho T11 01 phóng lợn rồi cả nhóm tiếp tục đi theo Quốc lộ A về hướng xã Y, huyện Y. Khi đi đến ngã ba đối diện chợ N6, xã Y thì cả nhóm dừng lại. Lưu Tuấn A chở B đi trước vào trong xóm B N mục đích để xem phía trong có bao nhiêu người. Khi đi vào thấy một nhóm thanh niên đang ở khu vực bờ ao thì cả hai quay ra Lưu Tuấn A nói với cả nhóm “Đang ở hết trong đấy”, Bào đổi lái chở Lưu Tuấn A ngồi sau cầm tuýp sắt dẫn đầu đi vào, cả nhóm đi theo sau, vừa đi vừa bấm còi liên tục, quẹt tuýp xuống đường, đồng thời giơ tuýp sắt, phóng lợn và đinh ba lên có nhiều lời nói hò hét đe doạ. Lúc này tại khu vực ghế đá giáp bờ ao thuộc xóm B N, xã Y nhóm thanh niên Y có 12 người gồm: Nguyễn Hoàng M1, Nguyễn Tiến T19, Tạ Anh T14, Nguyễn Thành T15, Tống Đức K2, Mã Quang H13, Phạm Tiến Q1, Tống Xuân V, Tạ Duy L7, Tống Dức D3, Tạ Đức T20 và Tống Văn M3 đang ngồi chơi thấy nhóm Kim S1 cầm hung khí đi vào. Thấy vậy, Quyền hô hoán “Bọn nó có phóng chạy đi” thì cả nhóm bỏ chạy. Khi chạy thì T14, Q1 và T15 cầm theo tuýp sắt dài khoảng 1,5m, H13 cầm cán chổi bằng inox dài khoảng 1,2m, K2 nhặt viên đá bên lề đường. Trước đó do lo sợ nhóm thanh niên Kim S1 đến lùa đánh thì T14 tự mang đến 04 thanh tuýp sắt rồi để ở gốc cây sấu gần ghế đá nhóm Yên L8 ngồi chơi và nói với cả nhóm là “Tuýp lấy để tý đội Kim S1 vào phòng thủ”, cán chổi inox thì có sẵn ở khu vực ghế đá từ trước. Khi bỏ chạy thì nhóm Yên L8 để lại 01 chiếc xe gắn máy nhãn hiệu ESPERO BKS 35AK-059.19 của anh Nguyễn Tiến T19 và 01 xe máy điện nhãn hiệu VINATHAI BKS 35MÐ8-001.61 của anh Nguyễn Hoàng M1. Thấy nhóm thanh niên Yên L8 chạy vào trong ngõ thì H hô hoán “Anh em vào hẳn trong ngõ đánh bọn nó”. Do lo sợ nhóm Kim S1 vào ngõ đánh thì K2 ném viên đá về phía nhóm Kim S1 nhưng không trúng ai còn T14, Q1 và T15 giơ tuýp sắt lên mục đích là để cho nhóm Kim S1 không truy đuổi. Khi này nhóm Kim S1 không vào ngõ mà đứng phía ngoài chửi, N1 cầm đinh ba hàn tuýp sắt đi đến đập phá vào hông bên phải và cổ xe điện BKS 35MĐ8-001.61 gây hư hỏng, Lưu Tuấn A giật tuýp sắt từ B đi đến đập phá gãy rời chắn bùn phía sau của xe gắn máy BKS 35AK-059.19. Sau đó cả nhóm đi theo đường X N đi về hướng UBND xã Y. Lưu Tuấn A cầm tuýp sắt và Trần Hoàng N1 cầm đinh ba ngồi sau xe quẹt xuống đường gây tóe lửa, chiếc đinh ba bong ra khỏi tuýp sắt rơi xuống đường, đi được khoảng 100m thấy hai thanh niên chưa rõ lai lịch đi trên xe mô tô ngược chiều thì Lê Tuấn A2 nói với Thế A1 là “Hai thằng hôm trước lùa em kìa”, nghe vậy Thế A1 hô lên “Hai thằng hôm trước đuổi mình kìa quay lại đuổi nó”. Lập tức cả nhóm quay xe lùa đuổi theo xe hai người thanh niên trên đến cuối đường hướng rẽ về xã Y, huyện Y thì không thấy hai người này nữa nên tiếp tục đi về phía UBND xã Y. Khi này là khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, Thế A1 nói “Hay lượn lên thị trấn đi” thì cả nhóm đồng ý rồi đi theo Quốc lộ A đi đến thị trấn Y, huyện Y. Khi đi đến khu vực Nhà văn hóa huyện Y thì cả nhóm quay lại đi về hướng xã Y. Khi đi đến đoạn đường thuộc xã Y, huyện Y thì xe của T3 chở T8 và T11 bị hỏng, T11 xuống xe ném phóng lợn vào lề đường, cả nhóm dừng lại. Khi này, T8 lấy 03 chiếc dao bọc trong vỏ gối ra, T11 lấy đưa cho Thế A1 một chiếc dao, T8 đưa cho D một chiếc dao còn một chiếc dao T8 cầm. Thế A1 đưa dao cho H10 nói “Em cầm hộ anh để anh chở” thì H10 ngồi sau cầm dao. Sau đó T8, T3 và T11 ở lại những người còn lại trong nhóm Kim S1 tiếp tục theo Quốc lộ A đi về phía xã Y. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi cả nhóm đi đến khu vực xóm A N, xã Y thì thấy nhóm thanh niên gồm anh Đàm Thanh Lâm S2 năm 2005, anh Hoàng Duy K3 sinh năm 2005, anh Đàm Văn M4 sinh năm 2005 và anh Nguyễn Đức T21 sinh năm 2005 cùng trú tại xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình đang ngồi chơi ở ghế đá giáp bờ ao. Nghĩ những người này cùng nhóm Yên L8 lùa đuổi lúc trước nên cả nhóm đi đến, Thế A1 dừng xe lại lấy dao từ tay H10 rồi giơ về phía nhóm anh L8, anh K3, anh M4 và anh T21 thì cả 04 người này bỏ chạy để lại chiếc xe gắn máy nhãn hiệu Victoria BKS 61CA-022.29 của anh L8. Khi này H cầm phóng lợn, H6 nhặt 01 mảng xi măng ở đường, D cầm dao cùng đập phá vào chiếc xe gắn máy BKS 61CA-022.29 của anh L8 gây hư hỏng. Sau khi đập phá xe xong cả nhóm đi ra quốc lộ A thì thấy 02 thanh niên không rõ lai lịch đi xe máy hướng từ chợ Nó đi hướng UBND xã Y thì tiếp tục lùa đuổi 02 người này vào trong thôn Đ, xã Y nhưng không đuổi được thì đi ra quốc lộ A để về huyện K, trên đường đi về thì Thế A1 bảo“Vứt hết đồ đi” thì Lưu Tuấn A, H, N1 ném toàn bộ hung khí vào bên đường. Anh Đàm Thanh L5 sau khi bị nhóm thanh niên Kim S1 lùa đuổi và bị nhóm này dùng hung khí đập phá làm hư hỏng xe gắn máy của mình đã đến Công an xã Y trình báo sự việc.

Ngay sau khi xảy ra sự việc, Công an xã Y đã tiến hành xác minh, thu giữ tại hiện trường nơi xảy ra vụ việc: 01 xe gắn máy nhãn hiệu Victoria BKS 61CA-022.29; 01 xe máy điện nhãn hiệu VINATHAI BKS 35MÐ8-001.61; 01 xe gắn máy nhãn hiệu ESPERO BKS 35AK-059.19; 01 mảng vữa xi măng màu xám KT(21x13x4)cm; 01 thanh kim loại có chiều dài 2,2m một đầu hàn gắn lưỡi dao, trong đó phần ống kim loại hình trụ dài 02m, đường kính 2,1cm, một đầu ống được hàn gắn 01 lưỡi dao loại dao bầu dài 20cm, mũi nhọn, bản dao phần rộng nhất là 6cm; 01 chiếc dao dài 42cm, tay nắm dao bằng gỗ hình trụ dài 12cm, bản dao bằng kim loại đã rỉ nơi rộng nhất là 07cm, loại dao một lưỡi sắc, sống dao bằng, đầu dao vuông, góc trên đầu dao có 01 lỗ KT(01X01)cm; 01 chiếc dao dài 39cm, tay nắm dao bằng gỗ hình trụ dài 13cm, bản dao bằng kim loại dài 26 cm có bám dính nhiều dị vật dạng bột màu đen, lưỡi dao có 01 vết sứt mẻ dài 05 cm, là loại dao một lưỡi, sống dao bằng, đầu dao vuông, bản dao nơi rộng nhất là 07cm; 01 chiếc dao dài 33 cm, phần tay nắm dao bằng gỗ hình trụ dài 11,5 cm; bản dao bằng kim loại đã bị rỉ nơi rộng nhất là 07cm, là loại dao một lưỡi, sống dao bằng, đầu dao vuông, góc trên đầu dao có 01 lỗ tròn đường kính 01 cm, sống dao có 05 vết sứt mẻ. Ngoài ra còn thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha BKS 35K1-068.11 của Huỳnh Tiến T8.

Quá trình điều tra, cơ quan CSĐT Công an huyện Y thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 35K1-594.88 do bà Tống Thị N3 là mẹ đẻ của Lê Tuấn A2 giao nộp; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS: 35K1-256.53 do bà Trần Thị Huyền T13 là mẹ đẻ Trần Trí H10 giao nộp; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 35K1-288.01 do ông Trần Văn C1 là bố đẻ Trần Hoàng N1 giao nộp; 01 máy hàn que nhãn hiệu JASIC do anh Nguyễn Văn H17 giao nộp.

Ngày 26/4/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y tiến hành định giá tài sản đối với 03 chiếc xe gồm: 01 xe gắn máy nhãn hiệu Victoria BKS 61CA-022.29; 01 xe máy điện nhãn hiệu VINATHAI BKS 35MĐ8-001.61; 01 xe gắn máy nhãn hiệu ESPERO BKS 35AK-059.19. Tại bản kết luận định giá tài sản số 04/ĐGTS-HĐ ngày 8/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y tỉnh Ninh Bình kết luận: Giá trị phần bị hư hỏng cần sửa chữa của 03 chiếc xe có đặc điểm nêu trên trong vụ “Gây rối trật tự công cộng” xảy ra ngày 3/3/2024 tại xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình tại thời điểm tháng 3/2024 là 3.640.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y tiến hành trích xuất dữ liệu camera tại cửa hàng G1 thuộc xóm A N, xã Y, huyện Y; tại cửa hàng sửa chữa xe máy Nhất Duyên thuộc xóm B N, xã Y, huyện Y; cửa hàng K4 thuộc tổ dân phố T, thị trấn Y, huyện Y và camera hành trình lắp đặt trên xe ô tô BKS 35A-381.85 do anh Nguyễn Hồng Đ3 điều khiển ghi nhận hành vi của nhóm đối tượng Kim S1 vào tối ngày 03/03/2024. Toàn bộ hình ảnh được trích xuất trên các camera thu giữ 05 tệp tin video được lưu giữ vào 04 đĩa DVD-R và được niêm phong trong 04 phong bì giấy theo quy định. Ngày 02/05/2024, cơ quan điều tra Công an huyện Y đã ra Quyết định trưng cầu Phòng K5 Công an tỉnh N giám định kỹ thuật số và điện tử dữ liệu video trích xuất được sao lưu. Tại bản kết luận giám định số 575/KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 28/6/2024 của Phòng K5 Công an tỉnh N kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 05 tệp tin video lưu trữ trong 04 đĩa DVD-R gửi giám định. Trích xuất được 13 ảnh mô tả nội dung diễn biến liên quan đến vụ “Gây rối trật tự công cộng” trong tệp tin video có tên “video 3”, “video 4”, “video 5”. Ảnh trích xuất được in và mô tả trong bản ảnh kèm theo kết luận giám định.

Tại bản Cáo trạng số 47/CT- VKS ngày 11/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã truy tố các bị cáo Phạm Hải Tuấn H, Vũ Văn D, Lưu Tuấn A, Mai Xuân T3, Phạm Thế A1, Trần Minh Q, Trần Anh H6 về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

Tuyên bố các bị cáo Phạm Hải Tuấn H, Vũ Văn D, Lưu Tuấn A, Mai Xuân T3, Phạm Thế A1, Trần Minh Q, Trần Anh H6 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 54; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt:

Vũ Văn D từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án.

Lưu Tuấn A từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án.

Phạm Hải Tuấn H từ 12 (mười hai) tháng tù đến 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời thử thách 24 tháng đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án.

Mai Xuân T3 từ 12 (mười hai) tháng tù đến 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời thử thách 24 tháng đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án.

Phạm Thế A1 từ 12 (mười hai) tháng tù đến 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời thử thách 24 tháng đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án.

Trần Minh Q từ 12 (mười hai) tháng tù đến 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời thử thách 24 tháng đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án.

Trần Anh H6 từ 12 (mười hai) tháng tù đến 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời thử thách 24 tháng đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi các bị cáo cư trú, giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy vật chứng đã thu giữ của vụ án.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án, không có ý kiến bào chữa, tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt; người bào chữa cho các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho các bị cáo nhất trí với luận tội của kiểm sát viên về tội danh và loại hình phạt, về mức hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ và chính sách pháp luật áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội cho các bị cáo; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã ra các quyết định tố tụng; thực hiện đúng, đầy đủ các hành vi tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; người tham gia tố tụng cung cấp đều hợp pháp.

[2]. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên toà có đủ cơ sở xác định:

Trong khoảng thời gian từ 19 giờ 30 phút đến 21 giờ 30 phút ngày 03/03/2024, Phạm Hải Tuấn H, Vũ Văn D, Lưu Tuấn A, Phạm Thế A1, Trần Minh Q, Mai Xuân T3, Trần Anh H6 cùng với Trần Hoàng N1, Trần Thế B, Nguyễn Thạch Bảo N2, Trần Trọng P, Trần Trí H10, Lê Tuấn A2, Huỳnh Tiến T8, Vũ Đức T11 có hành vi điều khiển 6 chiếc xe mô tô rú ga chạy xe trên đường hò hét và cầm theo nhiều hung khí là đinh ba, tuýp sắt, dao, phóng lợn, đi từ khu vực xã Y, huyện K theo QL12B đến khu vực xóm B N, xã Y, huyện Y để tìm đánh nhau với nhóm thanh niên ở xã Y; Khi nhóm thanh niên ở xã Y bỏ chạy thì cả nhóm đã sử dụng tuýp sắt, đinh ba hàn tuýp sắt đập phá làm hư hỏng 01 xe điện BKS 35MĐ8-001.61 của anh Nguyễn Hoàng M1 và 01 xe gắn máy BKS 35AK-059.19 của anh Nguyễn Tiến T19. Sau đó tiếp tục lùa đuổi hai thanh niên lạ mặt đi trên đường, không đuổi đánh được thì cả nhóm đã cầm theo hung khí đi trên xe mô tô rú ga phóng xe chạy trên đoạn đường Quốc lộ 12B đến thị trấn Y, huyện Y, trên đường đi cả nhóm đã quẹt phóng lợn và tuýp sắt xuống mặt đường tạo lên tiếng soẹt toé lửa trong đêm tối. Khi quay lại xã Y thấy nhóm thanh niên xã Y đang ngồi chơi thì tiếp tục cầm hung khí lùa đuổi đánh và đập hư hỏng 01 xe gắn máy BKS 61CA-022.29 của anh Đàm Thanh L5, rồi lại lùa đuổi hai thanh niên đi đường vào trong thôn Đ xã Y rồi mới đi về huyện K và vứt bỏ hung khí, gây tổng thiệt hại về tài sản là 3.640.000 đồng.

Điều 318 Bộ luật Hình sự: Tội gây rối trật tự công cộng

1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 nam đến 07 năm:

a) ......

b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách.

Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử kết luận hành vi: sử dụng dao, tuýp sắt, đinh ba, tuýp sắt hàn dao bầu đập phá làm hư hỏng tài sản của các bị cáo Phạm Hải Tuấn H, Vũ Văn D, Lưu Tuấn A, Mai Xuân T3, Phạm Thế A1, Trần Minh Q, Trần Anh H6 tại nơi công cộng đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

[3] Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, bị cáo Phạm Tuấn A3 có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận, bị cáo Trần Anh H6 ốm đau có hồ sơ bệnh án đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tội danh, loại, mức hình phạt đối với từng bị cáo là phù hợp, cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Khi lượng hình cần cân nhắc: các bị cáo phạm tội không mang tính tổ chức, nhưng cáo Vũ Văn D là người khởi xướng, rủ rê và tích cực trong việc chuẩn bị công cụ để đánh nhau; Lưu Tuấn A là người có mâu thuẫn với nhóm của Y lâm là nguyên nhân dẫn đến sự việc gây rối và người tích cực đi đầu trong việc thực hiện hành vi phạm tội nên tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội của hai bị cáo nguy hiểm hơn các bị cáo khác. Các bị cáo Phạm Hải Tuấn H, Mai Xuân T3, Phạm Thế A1, Trần Minh Q và Trần Anh H6 cùng thống nhất và thực hiện hành vi phạm tội tương đương nhau nên tích chất hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm như nhau. Xét các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong khi đang ở độ tuổi chưa thành niên, nhận thức pháp luật còn hạn chế; có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nơi cư trú rõ ràng, không cần bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho các bị cáo được hưởng án treo và mức án dưới khung hình phạt, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục là đủ điều kiện răn đe, giáo dục các bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, gia đình các bị cáo đã bồi thường xong cho gia đình anh Đàm Thanh L5, Nguyễn Hoàng M1 và Nguyễn Tiến T19. Gia đình các anh L5, M1, T19 đã nhận đủ tiền và không yêu cầu, đề nghị gì về việc bồi thường dân sự nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng.

Các vật chứng thu giữ của vụ án gồm: 01 mảng vữa xi măng màu xám KT(21x13x4)cm; 01 thanh kim loại có chiều dài 2,2m một đầu hàn gắn lưỡi dao, trong đó phần ống kim loại hình trụ dài 02m, đường kính 2,1cm, một đầu ống được hàn gắn 01 lưỡi dao loại dao bầu dài 20cm, mũi nhọn, bản dao phần rộng nhất là 6cm; 01 chiếc dao dài 42cm, tay nắm dao bằng gỗ hình trụ dài 12cm, bản dao bằng kim loại đã rỉ nơi rộng nhất là 07cm, loại dao một lưỡi sắc, sống dao bằng, đầu dao vuông, góc trên đầu dao có 01 lỗ KT(01X01)cm; 01 chiếc dao dài 39cm, tay nắm dao bằng gỗ hình trụ dài 13cm, bản dao bằng kim loại dài 26 cm có bám dính nhiều dị vật dạng bột màu đen, lưỡi dao có 01 vết sứt mẻ dài 05 cm, là loại dao một lưỡi, sống dao bằng, đầu dao vuông, bản dao nơi rộng nhất là 07cm; 01 chiếc dao dài 33 cm, phần tay nắm dao bằng gỗ hình trụ dài 11,5 cm; bản dao bằng kim loại đã bị rỉ nơi rộng nhất là 07cm, là loại dao một lưỡi, sống dao bằng, đầu dao vuông, góc trên đầu dao có 01 lỗ tròn đường kính 01 cm, sống dao có 05 vết sứt mẻ là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe gắn máy nhãn hiệu Victoria BKS 61CA-022.29 của anh Đàm Thanh L5; 01 xe máy điện nhãn hiệu VINATHAI BKS 35MÐ8-001.61 của anh Nguyễn Hoàng M1; 01 xe gắn máy nhãn hiệu ESPERO BKS 35AK-059.19 của anh Nguyễn Tiến T19, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã trả lại cho gia đình anh Đàm Thanh L5, gia đình anh Nguyễn Hoàng M1 và gia đình anh Nguyễn Tiến T19. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 35K1-594.88, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bà Tống Thị N3 là mẹ đẻ Lê Tuấn A2; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS: 35K1-256.53 là tài sản hợp pháp của bà Trần Thị Huyền T13 là mẹ đẻ Trần Trí H10; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 35K1-288.01 là tài sản hợp pháp của ông Trần Văn C1 là bố đẻ Trần Hoàng N1; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha BKS 35K1-068.11 là tài sản hợp pháp của bà Trần Thị T10 là mẹ đẻ Huỳnh Tiến T8. Quá trình điều tra xác định, bà N3, bà T13, ông C1, bà T10 không biết việc ngày 3/3/2024 Lê Tuấn A2, Trần Trí H10, Trần Hoàng N1, Huỳnh Tiến T8 sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện đi gây rối trật tự công cộng. Do vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chủ sở hữu bà N3, bà T13, ông C1. Đối với 01 chiếc máy hàn que nhãn hiệu JASIC, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn H17 đã cho Trần Minh Q mượn. Anh H17 không biết việc Q cùng với nhóm thanh niên Kim S1 sử dụng chiếc máy hàn trên vào việc hàn các hung khí ngày 3/3/2024. Do vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh H17 là có căn cứ.

[7] Trong vụ án, Tạ Anh T14, Nguyễn Thành T15, Phạm Tiến Q1 có hành vi cầm theo tuýp sắt, Mã Quang H13 cầm theo gậy inox và Tống Đức K2 cầm đá ném lại khi bị nhóm Kim S1 lùa đuổi với mục đích là để phòng vệ, để doạ cho nhóm Kim S1 không lùa đuổi đánh đến cùng, không hô hoán, lùa đuổi, kích động hay gây thiệt đến người hay tài sản, do vậy không vi phạm pháp luật. Đối với hành vi của Tạ Anh T14 chuẩn bị 04 tuýp sắt mang đến cho nhóm của mình, đây là hành vi vi phạm hành chính. Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện Y xử phạt vi phạm hành chính đối với Tạ Anh T14. Đối với Trần Hoàng N1, Trần Thế B, Nguyễn Thạch Bảo N2, Trần Trọng P, Trần Trí H10, Lê Tuấn A2, Huỳnh Tiến T8 và Vũ Đức T11, quá trình điều tra vụ án xác định N1, B, P, N2, H10, T8, T11 và Lê Tuấn A2 thực hiện hành vi vi phạm khi chưa đủ 16 tuổi. Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ tài liệu liên quan đến Công an huyện Y để xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65; Điều 90, Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự.
  2. Tuyên bố các bị cáo Phạm Hải Tuấn H, Vũ Văn D, Lưu Tuấn A, Mai Xuân T3, Phạm Thế A1, Trần Minh Q, Trần Anh H6 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Xử phạt các bị cáo:

    Vũ Văn D 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án (27/11/2024).

    Lưu Tuấn A từ 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án (27/11/2024).

    Phạm Hải Tuấn H 12 (Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án (27/11/2024).

    Mai Xuân T3 12 (Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án (27/11/2024).

    Phạm Thế A1 12 (Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án (27/11/2024).

    Trần Minh Q 12 (Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án (27/11/2024).

    Trần Anh H6 12 (Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án (27/11/2024).

    Giao bị cáo Phạm Hải Tuấn H cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện K, tỉnh Ninh Bình; bị cáo Vũ Văn D, bị cáo Mai Xuân T3, bị cáo Trần Minh Q cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình; bị cáo Lưu Tuấn A, bị cáo Phạm Thế Al cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình; bị cáo Trần Anh H6 cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy vật chứng đã thu giữ của vụ án gồm: 01 mảng vữa xi măng màu xám KT(21x13x4)cm; 01 thanh kim loại có chiều dài 2,2m một đầu hàn gắn lưỡi dao, trong đó phần ống kim loại hình trụ dài 02m, đường kính 2,1cm, một đầu ống được hàn gắn 01 lưỡi dao loại dao bầu dài 20cm, mũi nhọn, bản dao phần rộng nhất là 6cm; 01 chiếc dao dài 42cm, tay nắm dao bằng gỗ hình trụ dài 12cm, bản dao bằng kim loại đã rỉ nơi rộng nhất là 07cm, loại dao một lưỡi sắc, sống dao bằng, đầu dao vuông, góc trên đầu dao có 01 lỗ KT (01X01)cm; 01 chiếc dao dài 39cm, tay nắm dao bằng gỗ hình trụ dài 13cm, bản dao bằng kim loại dài 26 cm có bám dính nhiều dị vật dạng bột màu đen, lưỡi dao có 01 vết sứt mẻ dài 05 cm, là loại dao một lưỡi, sống dao bằng, đầu dao vuông, bản dao nơi rộng nhất là 07cm; 01 chiếc dao dài 33 cm, phần tay nắm dao bằng gỗ hình trụ dài 11,5 cm; bản dao bằng kim loại đã bị rỉ nơi rộng nhất là 07cm, là loại dao một lưỡi, sống dao bằng, đầu dao vuông, góc trên đầu dao có 01 lỗ tròn đường kính 01 cm, sống dao có 05 vết sứt mẻ.

    (Cụ thể chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/11/2024 giữa Công an huyện Y và Chi cục Thihành án dân sự huyện Y).

  4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 6; khoản 1, khoản 3 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí Toà án. Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử sở thẩm công khai, các bị cáo; người bào chữa, người đại diện hợp pháp cho các bị cáo; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án”.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND, VKSND tỉnh Ninh Bình.
  • - VKSND- Huyện YM.
  • - Bị cáo, Người CQLNVLQ, Người TGTT
  • - THA- CA.Huyện YM.
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

Nguyễn Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HS – ST ngày 27/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ - TỈNH NINH BÌNH về gây rối trật tự công cộng (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 46/2024/HS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ - TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Tuấn Hải H cùng đồng phạm phạm tội gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger