|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 46/2024/HS-ST Ngày 26/11/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Thắng;
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Dẫn và bà Trần Thị Hương Ly;
- - Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thu Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Kim C, sinh ngày 17/02/1985 tại Thái Nguyên;
Nơi cư trú: Xóm T, xã N, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T và bà Bàn Thị L; vợ: Bàn Thị A; con: 02 con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/4/2024 đến ngày 07/6/2024, hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp cho bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại tại địa phương; có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo C: Bà Lê Thúy H, Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T; (Có mặt).
- Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Thái Nguyên;
- Đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Thị S – Chủ tịch UBND huyện V;
- Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hồng S1 – Phó Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện V; (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + UBND xã N, huyện V, tỉnh Thái Nguyên;
- Đại diện: Ông Hà Đình Đ – Phó Chủ tịch UBND xã; (Vắng mặt).
- + Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1964; (Vắng mặt).
- + Bà Bàn Thị L, sinh năm 1963; (Vắng mặt).
- + Ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1969; (Vắng mặt).
- + Anh Hoàng Văn T2, sinh năm 1981; (Vắng mặt).
- + Anh Hoàng Văn L1, sinh năm 1978; (Vắng mặt).
- Cùng địa chỉ: Xóm T, xã N, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.
- + Ông Hoàng Văn H1, sinh năm 1971; (Vắng mặt).
- Địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do cần có gỗ để làm nhà ở và biết trong rừng tại lô 2, khoảnh 5, tiểu khu G thuộc thửa số 20, 22, 44, tờ bản đồ số 1 thuộc xóm T, xã N, huyện V, tỉnh Thái Nguyên có nhiều cây gỗ to có thể cắt lấy gỗ làm nhà được nên trong khoảng tháng 6/2023 Hoàng Kim C đã gặp các đối tượng là Hoàng Văn T1, Hoàng Văn T2 và Hoàng Văn L1 đều là người cùng ở xóm T. C nói với những người này là gia đình C có một khu rừng đã được phép khai thác gỗ, nay muốn khai thác để làm nhà và đặt vấn đề thuê T1, T2, L1 mang cưa máy đi cắt gỗ thuê cho C với giá 55.000 đồng/m gỗ đã xẻ thành phẩm, tin lời C thì những người này đồng ý. Sau đó C mang 01 máy cưa xăng màu đỏ, nhãn hiệu BOONGHAY ATK 687, T1 mang một máy cưa xăng màu đỏ không còn nhãn hiệu, L1 mang 01 máy cưa xăng nhãn hiệu YTAKA CS - 5900 không có lam, xích, màu đỏ và T2 mang theo 01 bộ lam, xích đến vị trí rừng nêu trên cưa hạ, cắt xẻ được 11 cây gỗ tự nhiên thành cột, tấm gỗ, cụ thể: 09 cây trên thửa đất số 22 đã được UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 562365, ngày 14/10/2013 cho ông Hoàng Văn T và bà Bàn Thị L (là bố, mẹ đẻ của C); 01 cây trên thửa đất số 20, chưa cấp Giấy CNQSD đất cho ai, hiện do UBND xã N quản lý; 01 cây trên thửa đất số 44, đã được UBND huyện V giao cho ông Hoàng Văn H1 (là chú ruột Cương).
Sau khi khai thác được số gỗ trên C đã tự mình vận chuyển về nhà được 14 thanh gỗ với khối lượng 0,525m³, số gỗ còn lại C vẫn để ở trên rừng. C đã trả tiền công xẻ gỗ cho anh T1 khoảng 5.000.000 đồng để anh T1 chia cho mọi người.
Ngày 21/6/2023 Trạm kiểm lâm xã Cúc Đường phối hợp với UBND xã N kiểm tra phát hiện sự việc lập hồ sơ chuyển đến Hạt kiểm lâm huyện V xử lý theo quy định. Đến ngày 22/6/2023 C tự nguyện giao nộp 14 thanh gỗ xẻ cho Trạm kiểm lâm C1.
Ngày 06/7/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã phối hợp với Hạt kiểm lâm huyện V, Viện nghiên cứu và phát triển nhiệt đới và các cơ quan chức năng, tiến hành khám nghiệm hiện trường, kiểm kê lâm sản và thu giữ mẫu vật giám định, cụ thể: Hiện trường xảy ra tại lô 2, khoảnh 5 tiểu khu G theo bản đồ quy hoạch 03 loại rừng xã N năm 2013, quy hoạch rừng phòng hộ thuộc xóm T, xã N, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, đối chiếu với bản đồ địa chính xã N, tờ bản đồ số 1 vị trí khai thác các cây gỗ thuộc thửa số 22, 20 và 44 đều là đất có rừng tự nhiên được quy hoạch là rừng phòng hộ. Tại hiện trường phát hiện có 11 gốc cây rừng tự nhiên bị chặt, 55 thân gỗ, đoạn thân cây, thanh gỗ xẻ. Tổ công tác đã kiểm đếm và lập bảng kê, lấy mẫu vật để giám định.
* Tại kết luận giám định số 331-2023/KL/ LNNĐ ngày 29/12/2023 của V nhiệt đới - Liên hiệp các hội K kết luận: Tại lô 2, khoảnh 5, tiểu khu G, quy hoạch rừng phòng hộ thuộc xóm T, xã N, huyện V, tỉnh Thái Nguyên trước thời điểm gỗ bị khai thác, chặt hạ là rừng tự nhiên được quy hoạch là rừng phòng hộ, trạng thái TXN (Rừng gỗ tự nhiên núi đất LRTX nghèo) và trạng thái TXP (Rừng gỗ tự nhiên núi đất LRTX phục hồi). Tổng khối lượng của 11 cây gỗ tại hiện trường là: 9,588 m³. Tên loài gỗ, nhóm gỗ của 11 cây gỗ thuộc 3 loài, thuộc các nhóm II nhóm III và nhóm V đều là các loài thực vật thông thường, không có tên trong danh sách đỏ Việt Nam và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về các loài thực vật nguy cấp quý hiếm, bị đe dọa tuyệt chủng.
Tại kết luận định giá số 08/KL- HĐĐGTS ngày 15/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận: Giá trị 9,588 m³ gỗ là 24.379.906 đồng (Hai mươi tư triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn chín trăm linh sáu đồng).
* Tại kết luận giám định số 185-2024/KL/LNNĐ ngày 28/6/2024 của V nhiệt đới - Liên hiệp các hội K Kết luận: 14 mẫu gỗ gửi giám định là gỗ Vải thiều rừng, thuộc nhóm V, là loài thực vật thông thường, không có tên trong danh sách đỏ Việt Nam và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về các loài thực vật nguy cấp, quý hiếm, bị đe dọa tuyệt chủng. Tổng khối lượng của 14 thanh gỗ xẻ là 0,525 m³ thuộc gỗ nhóm V.
Tại kết luận định giá số 16/KL- HĐĐGTS ngày 18/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V, định giá 14 thanh gỗ xẻ được bảo quản tại Trạm Kiểm lâm C1; kết luận: Giá trị 0,525 m³ khối gỗ là 1.779.373 đồng (một triệu bảy trăm bảy mươi chín nghìn, ba trăm bảy mươi ba đồng).
Như vậy, tổng khối lượng gỗ Hoàng Kim C đã khai thác trái phép là 10,113m³ có tổng giá trị là 26.159.279 đồng (Hai mươi sáu triệu một trăm năm mươi chín nghìn hai trăm bảy mươi chín đồng).
Tại cơ quan điều tra Hoàng Kim C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
* Vật chứng của vụ án gồm:
- + 01 cưa xăng đã qua sử dụng có đầy đủ lam, xích, màu đỏ nhãn hiệu BOONGHAY ATK 687 của Hoàng Kim C; 01 cưa xăng màu đỏ cũ đã qua sử dụng, không còn nhãn hiệu, không có lam xích của Hoàng Văn T1; 01 lam, 01 xích cũ đã qua sử dụng của Hoàng Văn T2; 01 cưa xăng nhãn hiệu YTAKA CS- 5900 không có lam xích, màu đỏ cũ đã qua sử dụng của Hoàng Văn L1; 01 hộp giấy catton ký hiệu B bên trong hộp có 66 mẫu gỗ. Những vật chứng này đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai chờ xử lý.
- + 9,588 m³, nhóm gỗ II, III, V để tại hiện trường, được giao UBND xã N tạm thời quản lý chờ xử lý.
- + 0,525 m³, nhóm gỗ thuộc nhóm V đang được bảo quản tại kho Trạm kiểm lâm Cúc Đường thuộc Hạt Kiểm lâm huyện V, chờ xử lý.
Tại Bản cáo trạng số 37/CT-VKSVN ngày 20/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố đối với bị cáo Hoàng Kim C về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai đã trình bày bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Kim C về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” đề nghị áp dụng điểm d khoản 1 Điều 232; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS, Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo, xử phạt bị cáo C từ 12 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 cưa xăng đã qua sử dụng có đầy đủ lam, xích, màu đỏ nhãn hiệu BOONGHAY ATK 687 của Hoàng Kim C; 01 cưa xăng màu đỏ cũ đã qua sử dụng, không còn nhãn hiệu, không có lam xích của Hoàng Văn T1; 01 lam, 01 xích cũ đã qua sử dụng của Hoàng Văn T2; 01 cưa xăng nhãn hiệu YTAKA CS- 5900 không có lam xích, màu đỏ cũ đã qua sử dụng của Hoàng Văn L1; 9,588 m³ gỗ nhóm II, III, V đang được UBND xã N quản lý tại hiện trường; 0,525 m³ gỗ nhóm V đang được bảo quản tại kho Trạm kiểm lâm Cúc Đường thuộc Hạt Kiểm lâm huyện V.
Tịch thu tiêu huỷ 01 hộp giấy catton ký hiệu B bên trong hộp có 66 mẫu gỗ.
Về dân sự: Ghi nhận Hoàng Kim C tự nguyện bồi thường thiệt hại cho UBND huyện V 5.000.000 đồng.
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Xác định cáo trạng của VKS truy tố đối với Hoàng Kim C là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử khi lượng hình cân nhắc bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, bản thân chưa có nhà ở nên mới phạm tội. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khi bị phát hiện đã thành khẩn nhận tội, giao nộp vật chứng cho cơ quan điều tra; trước khi xét xử bị cáo đã tự nguyện bồi thường nộp số tiền 5.000.000 đồng tại Chi cục THADS huyện V để bồi thường cho UBND huyện V. Bị cáo đã có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, phục vụ trong quân đội, khi trở về địa phương đã tích cực tham gia các hoạt động, là đảng viên Đ1, Chi hội trưởng Hội Cựu chiến binh xóm T, được tặng kỷ niệm chương của Hội CCB và Giấy khen của Hội N. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 1 Điều 232; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự xử bị cáo Hoàng Kim C mức án từ 9 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo. Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo. Qua vụ án này cũng khiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh lại bản đồ quy hoạch ba loại rừng để cho người dân có đất sản xuất.
Bị cáo không bổ sung, nhất trí với nội dung bào chữa.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện nguyên đơn dân sự và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều được coi là hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã mô tả. Bị cáo xác định cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai truy tố là đúng người, đúng tội. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản niêm phong đồ vật, vật chứng bị tạm giữ, lời khai của người liên quan, đại diện nguyên đơn dân sự, các Kết luận giám định xác định chủng loại, khối lượng (thể tích gỗ). Đã có đủ cơ sở để xác định: Trong khoảng tháng 06/2023 tại lô 2, khoảnh 5, tiểu khu G bản đồ quy hoạch 03 loại rừng xã N năm 2013 thuộc thửa số 20, 22, 44 bản đồ địa chính xã N được quy hoạch là rừng phòng hộ thuộc xóm T, xã N, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, Hoàng Kim C không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép khai thác gỗ đã có hành vi thuê người khác khai thác trái phép 10,113 m³ gỗ loài thực vật thông thường có giá trị 26.159.279 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo Hoàng Kim C đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm d khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật quy định như sau:
“Điều 232. Tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 243 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:...
d) Khai thác trái phép rừng phòng hộ là rừng tự nhiên từ 07 mét khối (m³) đến dưới 15 mét khối (m³) gỗ loài thực vật thông thường ....”.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo C về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất, mức độ về hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là tài nguyên rừng thuộc sở hữu toàn dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, quản lý và bảo vệ rừng tại địa phương, do đó cần phải được xử lý bằng pháp luật hình sự để giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[4]. Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo thấy:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo được Hội C2 tặng kỷ niệm chương và Hội Nông dân tặng Giấy khen nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo C học đến hết lớp 9, lớn lên lao động sản xuất nông nghiệp cùng với gia đình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số (dân tộc Dao), thuộc hộ cận nghèo, sống ở khu vực vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo là đảng viên Đ1 (hiện đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng), là Chi hội trưởng Hội Cựu chiến binh xóm T.
[5]. Căn cứ vào tính chất, mức độ tội phạm do bị cáo thực hiện, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết xử phạt bị cáo Hoàng Kim C mức án từ 9 đến 12 tháng tù là phù hợp. Do bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, quá trình điều tra đã nhận thức được sai phạm, hợp tác với cơ quan điều tra và có đơn xin cải tạo tại địa phương được chính quyền địa phương xác nhận. Căn cứ Điều 65 của Bộ luật Hình sự thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo C được hưởng án treo để cải tạo tại địa phương với thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 4 Điều 232 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng...”. Tuy nhiên, bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7]. Vật chứng của vụ án cần áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự, xử lý như sau:
- + 01 cưa xăng đã qua sử dụng có đầy đủ lam, xích, màu đỏ nhãn hiệu BOONGHAY ATK 687 của Hoàng Kim C; 01 cưa xăng màu đỏ cũ đã qua sử dụng, không còn nhãn hiệu, không có lam xích của Hoàng Văn T1; 01 lam, 01 xích cũ đã qua sử dụng của Hoàng Văn T2; 01 cưa xăng nhãn hiệu YTAKA CS- 5900 không có lam xích, màu đỏ cũ đã qua sử dụng của Hoàng Văn L1; 9,588 m³ gỗ nhóm II, III, V đang được UBND xã N quản lý tại hiện trường; 0,525 m³ gỗ nhóm V đang được bảo quản tại kho Trạm kiểm lâm Cúc Đường thuộc Hạt Kiểm lâm huyện V cần được tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- + 01 hộp giấy catton ký hiệu B bên trong hộp có 66 mẫu gỗ cần tịch thu tiêu huỷ.
[8]. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết, Nguyên đơn dân sự và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại, do vậy Hội đồng xét xử không giải quyết. Tuy nhiên bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 5.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai để bồi thường thiệt hại cho UBND huyện V nhằm khắc phục hậu quả, do vậy cần ghi nhận việc bồi thường của bị cáo.
[9]. Đối với Hoàng Văn T1, Hoàng Văn T2, Hoàng Văn L1 là những người được Hoàng Kim C thuê khai thác gỗ tại rừng phòng hộ. Quá trình điều tra xác định được những người này do tin tưởng thông tin do C đưa ra là rừng đã được cấp phép khai thác gỗ nên đã thực hiện hành vi khai thác. Do vậy, hành vi của những người này không cấu thành tội phạm.
[10]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà về tội danh, căn cứ áp dụng pháp luật cơ bản là phù hợp, tuy nhiên đại diện VKS đè xuất không áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo là có phần thiệt thòi cho bị cáo. Tại phiên toà ý kiến bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý là có cơ sở cần được chấp nhận.
[11]. Về án phí: Bị cáo C thuộc diện hộ cận nghèo, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, bị cáo đã có đơn xin miễn án phí; căn cứ Nghị quyết số 326/ 2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bởi các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Kim C phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
- Về hình phạt: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 232; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn về án treo;
Xử phạt: Hoàng Kim C 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Hoàng Kim C cho UBND xã N, huyện V, tỉnh Thái Nguyên giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hoàng Kim C.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 90, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 cưa xăng đã qua sử dụng có đầy đủ lam, xích, màu đỏ nhãn hiệu BOONGHAY ATK 687 của Hoàng Kim C; 01 cưa xăng màu đỏ cũ đã qua sử dụng, không còn nhãn hiệu, không có lam xích của Hoàng Văn T1; 01 lam, 01 xích cũ đã qua sử dụng của Hoàng Văn T2; 01 cưa xăng nhãn hiệu YTAKA CS- 5900 không có lam xích, màu đỏ cũ đã qua sử dụng của Hoàng Văn L1.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 hộp giấy catton ký hiệu B bên trong hộp có 66 mẫu gỗ.
(Vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục THADS huyện V, có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện V với Chi cục THA dân sự huyện V, tỉnh Thái Nguyên ngày 04/9/2024).
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 10,113 m³ gỗ nhóm II, III, V, cụ thể: 9,588 m³ gỗ nhóm II, III, V tại hiện trường, do UBND xã N quản lý; 0,525 m³ gỗ nhóm V tại kho của Trạm kiểm lâm Cúc Đường thuộc Hạt Kiểm lâm huyện V quả lý.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự;
Ghi nhận bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho UBND huyện V, tỉnh Thái Nguyên số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0002936 ngày 08/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm d, khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/ 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Kim C.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tất Thắng |
Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
- Số bản án: 46/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HOÀNG KIM C TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ KHAI THÁC RỪNG VÀ LÂM SẢN
