|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2024/HS-ST Ngày: 12-11-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thiên Quan
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Huỳnh Thị Sâm – Bà Đỗ Thị Minh Linh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thị Ngọc Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Khánh Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận xét xử công khai rút kinh nghiệm đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024.
Bị cáo: Phạm Văn H, sinh ngày 24-5-1996 tại Ninh Thuận.
Nơi cư trú: Thôn M, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông: Phạm Văn Q, sinh năm 1965 và bà Trần Thị T, sinh năm 1969. Vợ, con: Không.
Nhân thân: Không.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị L, sinh năm: 1993. (có đơn xin giải quyết vắng mặt)
Trú tại: Thôn M, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 13-9-2024, Tổ tuần tra C1 H1 và Công an huyện N tuần tra đoạn đường T thuộc thôn M, xã T, huyện N, phát hiện bị cáo Phạm Văn H điều khiển xe mô tô Future màu nâu, đen, vàng, biển số 85C1- 081.14 có dấu hiệu nghi vấn nên dừng xe để kiểm tra, phát hiện trong túi quần, phía trước, bên trái của bị cáo có 01 bao thuốc lá hiệu Cotab bên trong có ma túy và bắt giữ bị cáo. Khi bị Công an dừng xe kiểm tra bị cáo vứt điện thoại xuống đường nên bị hư và Công an thu giữ điện thoại.
Căn cứ kết quả điều tra xác định: Vào khoảng 09 giờ ngày 13-9-2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo Phạm Văn H gọi điện thoại cho một người tên M (không rõ nhân thân lai lịch, địa chỉ cụ thể) để hỏi mua ma túy đá với số tiền 800.000 đồng. M đồng ý và hẹn bị cáo tại khu vực chợ M1 thuộc phường M, thành phố P T để giao ma túy. Bị cáo mượn xe của chị gái là Phạm Thị L - Sinh năm: 1993 ở thôn M, xã N, huyện N (xe mô tô Future màu nâu, đen, vàng, biển số 85C1- 081.14) rồi điều khiển đi từ nhà ở thôn M, xã N, huyện N đến nơi M với bị cáo đã hẹn trước. Khi đến nơi, bị cáo đưa cho M số tiền 800.000 đồng, M nhận tiền và nói bị cáo đợi tại chỗ còn M đi đâu đó khoảng 10 phút thì gọi điện lại cho bị cáo và chỉ bị cáo chỗ cất giấu ma túy. Bị cáo đến nơi M đã chỉ và lấy bao thuốc lá nhãn hiệu Cotab, bên trong có 01 bịch nylon chứa ma túy đá. Sau khi lấy được ma túy bị cáo đem về nhà sử dụng một mình rồi đi ngủ. Số ma túy còn lại bị cáo bỏ vào bao thuốc lá hiệu Cotab cất giữ để lần sau sử dụng.
Cùng ngày 13-9-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiến hành khám xét khẩn cấp nhà của bị cáo, kết quả không thu giữ gì liên quan đến ma túy. Tiến hành test nhanh bị cáo dương tính với ma túy loại Methamphetamine (Đá).
Tại bản kết luận giám định số: 227/KL-KTHS ngày 18-9-2024 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh N: Mẫu chất kết tinh màu trắng chứa trong 01 (một) bịch nylon hàn kín được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu PS3 mã số 23009174, trên túi niêm phong có hình dấu đỏ của Công an xã T cùng chữ ký và họ tên của Phạm Văn P, Nguyễn Ngọc S, Đặng Đình L1, Phạm Văn H gửi đến giám định có khối lượng 1,2466 gam là ma túy, loại Methamphetamine.
Ngày 27-9-2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành trưng cầu giám định Phòng K Công an tỉnh N đối với dữ liệu điện tử của điện thoại di động hiệu Xiaomi Poco màu xanh, số model: 220333QPG, đã bị bể, không hoạt động được (đã qua sử dụng), bên trong có gắn sim số 0962734005 của bị cáo. Ngày 30-9-2024 Phòng K có Công văn về việc từ chối tiếp nhận trưng cầu giám định vì điện thoại gửi giám định đã bị hỏng phần cứng, không hoạt động và không kết nối được với phương tiện giám định của Phòng Kỷ thuật hình sự nên không thể trích xuất dữ liệu theo yêu cầu của Cơ quan điều tra.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 47/CT-VKS ngày 24-10-2024 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Văn H.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn H từ 18 (Mười tám) tháng tù đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 13-9-2024.
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đề nghi Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì màu trắng trên phong bì có hình dấu đỏ của Phòng K cùng chữ ký và họ tên Nguyễn Nghi A, Đoàn Văn C, Nguyễn Lê Đức N, Bùi Lâm B, bên trong phong bì là mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng 0,9768 gam ma túy, loại Methamphetamine.
- Đối với điện thoại di động hiệu Xiaomi Poco màu xanh, bung rời màng hình, không hoạt động được, bên trong có gắn 01 thẻ sim có số sim 8984048000923129059, có sim số 0962734005, được niêm phong trong phong bì màu trắng trên phòng bì có hình dấu đỏ của phòng K và chữ ký họ tên của Bùi Lâm B, Lâm Duy N1. Đây là công cụ, phương tiện mà bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Cotab (không có gì bên trong) được niêm phong trong phong bì màu trắng trên phong bì có hình dấu đỏ của phòng K và chữ ký, họ tên của Bùi Lâm B, Lâm Duy N1 đây là công cụ, phương tiện mà bị cáo dùng để cất giấu ma túy, liên quan đến tội phạm, không còn giá trị sử dụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Future, biển số 85C1-081.14 mà bị cáo Phạm Văn H sử dụng đi mua ma túy là của chị Phạm Thị L. Chị L không biết mục đích sử dụng xe mô tô của H nên Cơ quan điều tra tạm giữ và trả lại cho chị L là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với đối tượng tên M bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không nói lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng của thu giữ, phù hợp với Kết luận giám định số 227/KL-KTHS ngày 18-9-2024 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh N và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 15 giờ 10 phút, ngày 13-9-2024, bị cáo Phạm Văn H đã tàng trữ trái phép 1,2466 gam ma túy, loại Methamphetamine trong túi quần phía trước, bên trái của bị cáo nhằm mục đích sử dụng thì bị Tổ tuần tra Công an huyện N phối hợp với Công an xã T bắt quả tang tại đoạn đường T thuộc thôn M, xã T, huyện N.
Hành vi của bị cáo Phạm Văn H đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự; Cáo trạng số 47/CT-VKS ngày 24-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo Phạm Văn H là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy và phạm tội với lỗi cố ý. Ma túy là loại độc dược gây nghiện, sử dụng ma túy gây hại cho sức khỏe người sử dụng, ảnh hưởng xấu đến nhân cách đạo đức con người, sự phát triển giống nòi và là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn khác trong xã hội. Nên cần xử phạt bị cáo một hình phạt tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và cũng nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Trong vụ án này bị cáo Phạm Văn H có đủ nhận thức để hiểu được tác hại của ma túy và những quy định cấm đoán của pháp luật đối với mọi hành vi phạm tội về ma túy.
[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Cha của bị cáo là ông Phạm Văn Q là thương binh loại A, hạng Ba và được Ủy ban nhân dân tỉnh N tặng Bằng khen, Ủy ban nhân dân huyện N và Ủy ban nhân dân xã N tặng giấy khen vì có thành tích xuất sắc nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
[5] Trên cơ sở xem xét nguyên nhân phát sinh tội phạm, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, để bị cáo có đủ điều kiện tránh xa với ma túy, có cơ hội cải tạo trở thành người công dân tốt cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 46, Điều 47 BLHS, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì màu trắng bên trong phong bì là mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng 0,9768 gam ma túy, loại Methamphetamine. Trên phong bì có hình dấu đỏ của Phòng K cùng chữ ký và họ tên Nguyễn Nghi A, Đoàn Văn C, Nguyễn Lê Đức N, Bùi Lâm B,
- Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Poco màu xanh, bung rời màng hình, không hoạt động được, bên trong có gắn 01 thẻ sim có số sim 8984048000923129059, có sim số 0962734005, được niêm phong trong phong bì màu trắng, trên phòng bì có hình dấu đỏ của phòng K và chữ ký họ tên của Bùi Lâm B, Lâm Duy N1, đây là điện thoại của bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Cotab (không có gì bên trong) được niêm phong trong phong bì màu trắng trên phong bì có hình dấu đỏ của phòng K và chữ ký, họ tên của Bùi Lâm B, Lâm Duy N1.
[8] Đối với xe mô tô nhãn hiệu Future, biển số 85C1-081.14 mà bị cáo Phạm Văn H sử dụng đi mua ma túy là của chị Phạm Thị L. Chị L không biết mục đích sử dụng xe mô tô của bị cáo nên Cơ quan điều tra tạm giữ và trả lại cho chị L là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với đối tượng tên M bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau.
[9] Về án phí: Do bị cáo bị buộc tội nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Văn H.
- Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 13-9-2024.
Quyết định tạm giam số 18/2024/QĐ-TG ngày 12-11-2024.
- Căn cứ: Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì màu trắng bên trong phong bì là mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng 0,9768 gam ma túy, loại Methamphetamine. Trên phong bì có hình dấu đỏ của Phòng K cùng chữ ký và họ tên Nguyễn Nghi A, Đoàn Văn C, Nguyễn Lê Đức N, Bùi Lâm B,
- - Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Poco màu xanh, bung rời màng hình, không hoạt động được, bên trong có gắn 01 thẻ sim có số sim 8984048000923129059, có sim số 0962734005, được niêm phong trong phong bì màu trắng, trên phòng bì có hình dấu đỏ của phòng K và chữ ký họ tên của Bùi Lâm B, Lâm Duy N1.
- - Tịch thu, tiêu hủy 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Cotab (không có gì bên trong) được niêm phong trong phong bì màu trắng trên phong bì có hình dấu đỏ của phòng K và chữ ký, họ tên của Bùi Lâm B, Lâm Duy N1.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06-11-2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Hải.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (Ngày 12-11-2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị L được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thiên Quan |
Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 46/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Văn Hên phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
