|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2024/HS-ST Ngày: 31/10/2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Láng
- Ông Dương Xuân Tựu
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Ma Thế Thiện – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 43/2024/TLST-HS ngày 01/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-HS ngày 17/10/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Văn P (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày 16/7/1970 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/10; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đặng Văn N, sinh năm 1937 và bà Triệu Thị P1, sinh năm 1944; Có vợ là Triệu Thị P2, sinh năm 1969 và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 07/7/2005 bị Tòa án nhân dân huyện Ba Bể xử phạt 09 (C) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quyết định của bản án số 10/2005/HSST, đã được xóa án tích; Ngày 08/12/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Ba Bể xử phạt 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quyết định của bản án số 14/2015/HSST, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27/5/2024 đến ngày 05/6/2024 thì được tại ngoại.
Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đinh Xuân D - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt.
* Người tham gia tố tụng khác:
- - Anh Ma Thế L, sinh năm 1990 - Người chứng kiến.
- - Ông Đồng Minh N1, sinh năm 1960 - Người chứng kiến.
Cùng địa chỉ: Tiểu khu B, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 17 giờ 00 phút ngày 27/5/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy Công an huyện B đang làm nhiệm vụ tuần tra tại tiểu khu B, thị trấn C, huyện B thì phát hiện Đặng Văn P, sinh năm 1970, trú tại thôn B, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn có biểu hiện nghi vấn cất giấu, tàng trữ trái phép hàng cấm trên người. Tiến hành kiểm tra, phát hiện tại túi quần phía trước, bên trái đang mặc của Đặng Văn P có 01 (Một) gói được gói bằng giấy tráng kim loại màu trắng, vàng, bên trong chứa chất dạng cục, bột màu trắng. Đặng Văn P khai nhận, chất dạng cục, bột màu trắng trong gói là H được P mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong gói nhỏ nghi là ma túy vào phong bì ký hiệu A1.
Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của P 01 (Một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu trắng, hồng, mặt sau có in chữ OPPO, có ốp nhựa dẻo màu nâu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng, tiến hành niêm phong vào phong bì ký hiệu A2; thu giữ 02 (Hai) chiếc xi lanh (Bơm kim tiêm) trong đó có 01 (Một) chiếc đã qua sử dụng, 01 (Một) chiếc chưa qua sử dụng và 01 (Một) lọ nước cất chưa qua sử dụng, tiến hành niêm phong vào phong bì ký hiệu A3; Đặng Văn P tự nguyện giao nộp 01 (Một) vật chứng là chiếc quần dài, chất liệu bằng vải, màu đen P dùng để cất giấu ma túy và mặc trên người khi bị bắt quả tang, quần cũ đã qua sử dụng.
Tại biên bản mở, đóng niêm phong cân xác định khối lượng vật chứng nghi là chất ma túy ngày 27/5/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn xác định: Gói bên trong chứa chất dạng cục, bột màu trắng nghi là chất ma túy Heroine thu giữ của Đặng Văn P cân riêng chất dạng cục, bột màu trắng nghi chất ma túy Heroine có khối lượng là 0,22g (Không phẩy hai hai gam), niêm phong vào phong bì ký hiệu B1 để gửi giám định. Niêm phong toàn bộ phong bì, giấy gói cũ vào phong bì ký hiệu B2.
Trên cơ sở đó, vào hồi 20 giờ 20 phút ngày 27/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở và công trình phụ cận có liên quan tại chỗ ở của Đặng Văn P tại thôn B, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, kết quả không phát hiện và thu giữ thêm tài liệu, đồ vật gì có liên quan đến hành vi vi phạm của P.
Tại bản Kết luận giám định số 185/KL-KTHS ngày 03/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có tên khoa học là D1 được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B1 có khối lượng là 0,22g (Không phẩy hai hai gam)”.
Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1 còn lại 0,18g (Không phẩy một tám gam) cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T111 hoàn trả lại cho Cơ quan trưng cầu.
Tại giai đoạn điều tra, truy tố Đặng Văn P khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi vi phạm, số tiền dùng để mua ma túy, số lượng ma túy đã mua và tàng trữ, cụ thể: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 27/5/2024 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Đặng Văn P đi xe khách từ nhà ở thôn B, xã C đến thị trấn C, huyện B để tìm mua ma túy. Khi đến ngã tư gần Trung tâm y tế huyện B thuộc tiểu khu B, thị trấn C, P xuống xe và đi bộ quanh khu vực cổng Trung tâm Y tế huyện B thì nhìn thấy một người đàn ông không quen biết nhìn giống người nghiện ma túy đang đứng ở lề đường nên P đã hỏi mua được 01 (Một) gói ma túy với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, P cất vào túi quần rồi đi bộ theo đường lớn để đón xe khách về nhà thì bị cơ quan Công an phát hiện và bắt quả tang.
Quá trình điều tra còn xác định được Đặng Văn P là lao động tự do, không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, thuộc diện hộ nghèo có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Không có tài liệu chứng minh bản thân hoặc gia đình thuộc diện chính sách, người có công với cách mạng.
Tại cáo trạng số 44/CT-VKSBB ngày 29/9/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố Đặng Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
* Tại phiên tòa:
- - Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn duy trì quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã trình bày quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đặng Văn P về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Tuyên bố bị cáo Đặng Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, Điều 51/BLHS: Xử phạt bị cáo Đặng Văn P từ 15 (Mười lăm) đến 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- + Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47/BLHS và Điều 106/BLTTH: Tịch thu tiêu hủy đối với 03 (Ba) phong bì niêm phong ký hiệu T111, B2, A3 và 01 chiếc quần dài, chất liệu bằng vải, màu đen, quần cũ đã qua sử dụng; Trả lại cho bị cáo 01 (Một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu trắng, hồng, mặt sau có in chữ OPPO, có ốp nhựa dẻo màu nâu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
- Tại phần tranh luận:
Người bào chữa trình bày lời bào chữa: Việc khởi tố, truy tố, xét xử bị cáo Đặng Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Người bào chữa tranh luận về cách xác định nhân thân của bị cáo: Bị cáo có 02 tiền án bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” tại các bản án số 10/2005/HSST ngày 07/7/2005 và bản án số 14/2015/HSST ngày 08/12/2015 của Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tuy nhiên tính đến ngày phạm tội trong vụ án này bị cáo đã được đương nhiên xóa án tích theo quy định tại Điều 70/BLHS 2015, do đó bị cáo được coi như chưa từng phạm tội. Đề nghị HĐXX xác định bị cáo có nhân thân tốt.
Về mức hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Đặng Văn P mức án từ 15 (Mười lăm) đến 16 (Mười sáu) tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung và đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát đã đối đáp đầy đủ các ý kiến của người bào chữa: Theo quy định tại Điều 2 của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTPđược bổ sung bởi điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì “người có nhân thân tốt” được định nghĩa là người phạm tội luôn tuân theo chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân ở nơi cư trú và nơi làm việc, bị cáo P đã bị Tòa án xét xử 02 lần về tội “Trộm cắp tài sản”, tuy đã được xóa án tích theo quy định tại Điều 70/BLHS 2015 nhưng không đủ điều kiện, căn cứ để xác định là người có nhân thân tốt. Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm đánh giá về nhân thân của bị cáo là nhân thân xấu như bản luận tội đã trình bày tại phiên tòa.
Bị cáo nhất trí với nội dung cáo trạng và bản luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa, không tự bào chữa, không tranh luận. Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức án thấp nhất cho bị cáo để bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm trở về tái hòa nhập gia đình và cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, do người bào chữa và bị cáo cung cấp: Xét thấy đảm bảo theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt những người chứng kiến, tuy nhiên họ đã có đầy đủ lời khai tại giai đoạn điều tra, việc vắng mặt của những người chứng kiến tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến theo quy định.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó đủ cơ sở xác định:
Vào hồi 17 giờ 00 phút ngày 27/5/2024 tại tiểu khu B, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Đặng Văn P đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,22g (Không phẩy hai hai gam) ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đầy đủ nhận thức và không bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi của mình, bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên vẫn cố ý thực hiện.
Như vậy có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử bị cáo Đặng Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 đến 05 năm:
- a) ...
- c) Heroine, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
- ...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
[3] Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Tội phạm Đặng Văn P thực hiện là tội phạm nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, là nguyên nhân và nguy cơ làm gia tăng tội phạm, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự địa phương, cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:
Bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nhân thân xấu: Ngày 07/7/2005 bị Tòa án nhân dân huyện Ba Bể xử phạt 09 (C) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quyết định của bản án số 10/2005/HSST, đã được xóa án tích; Ngày 08/12/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Ba Bể xử phạt 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quyết định của bản án số 14/2015/HSST, đã được xóa án tích.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, do đó bị cáo được hưởng 01 (Một) tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về hình phạt:
Trên cơ sở quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về hình phạt chính: Xét thấy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với thực tiễn xét xử tại địa phương để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249/BLHS quy định về hình phạt bổ sung đối với người phạm tội, tuy nhiên xét hoàn cảnh gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, bị cáo là lao động tự do, không có tài sản riêng gì có giá trị, việc áp dụng hình phạt bổ sung là không khả thi, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng:
Gồm có:
- - 01 (Một) phong bì ký hiệu T111, bên trong có chứa mẫu vật còn lại sau giám định và phong bì, giấy gói cũ; 01 (Một) phong bì ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì, giấy gói cũ; 01 (Một) phong bì lý hiệu A3 bên trong có chứa 02 chiếc xi lanh bơm kim tiêm trong đó 01 chiếc đã qua sử dụng, 01 chiếc chưa qua sử dụng, 01 lọ nước cất chưa qua sử dụng và 01 (Một) chiếc quần dài, chất liệu bằng vải, màu đen, quần cũ đã qua sử dụng được bị cáo dùng để cất giấu ma túy và mặc trên người khi bị bắt quả tang về hành vi phạm tội. Xác định đây là những vật cấm tàng trữ, lưu hành và vật không có giá trị do đó cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 (Một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu trắng, hồng, mặt sau có in chữ OPPO, có ốp nhựa dẻo màu nâu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều khai nhận việc mua ma túy được bị cáo giao dịch trực tiếp với người đàn ông lạ mặt tình cờ gặp trên đường, không hẹn trước, không liên lạc qua điện thoại. Tại biên bản mở niêm phong ngày 29/5/2024 đối với phong bì niêm phong ký hiệu A2 chứa chiếc điện thoại nêu trên tiến hành kiểm tra nội dung cuộc gọi, tin nhắn và các ứng dụng trên điện thoại không phát hiện nội dung gì liên quan đến hành vi phạm tội của Đặng Văn P. Xác định chiếc điện thoại trên không liên quan đến hành vi phạm tội, do đó trả lại cho bị cáo theo quy định.
[7] Về vấn đề khác:
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Đặng Văn P: Quá trình điều tra không xác minh, xác định được đối tượng, do đó cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp.
[8] Về quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân và người bào chữa:
Xét thấy quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, cần được chấp nhận.
Xét đề nghị của người bào chữa về việc xác định bị cáo có nhân thân tốt là không có căn cứ, không được chấp nhận.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo là cá nhân thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí, xét thấy cần chấp nhận miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 47, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2]. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Văn P 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 27/5/2024 đến ngày 05/6/2024.
[3]. Về vật chứng:
[3.1]. Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 (Một) phong bì ký hiệu T111, bên trong có chứa mẫu vật còn lại sau giám định và phong bì, giấy gói cũ; 01 (Một) phong bì ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì, giấy gói cũ; 01 (Một) phong bì lý hiệu A3 bên trong có chứa 02 (Hai) chiếc xi lanh bơm kim tiêm trong đó 01 (Một) đã qua sử dụng, 01 (Một) chiếc chưa qua sử dụng, 01 (Một) lọ nước cất chưa qua sử dụng; 01 (Một) chiếc quần dài, chất liệu bằng vải, màu đen, quần cũ đã qua sử dụng.
[3.2]. Trả lại cho bị cáo: 01 (Một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu trắng, hồng, mặt sau có in chữ OPPO, có ốp nhựa dẻo màu nâu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận ngày 01/10/2024 giữa Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn với Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn)
[4]. Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thùy Linh |
Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 46/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào hồi 17 giờ 00 phút ngày 27/5/2024 tại tiểu khu 2, thị trấn Chợ Rã, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, Đặng Văn Ph đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,22g (Không phẩy hai hai gam) ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.
