Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN

YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HS-ST

Ngày: 24-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hồng Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Cương.
  2. Ông Nguyễn Đức Quyền.

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 24-9-2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HS ngày 27/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2014/QĐST-HS ngày 12/9/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Vy Văn X, sinh năm 1973; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn L, xã H, H, tỉnh Lạng Sơn; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hoá: 0/12; Nghề nghiệp: Tự do; Chức vụ: Không có; Họ tên cha: Vy Văn M (đã chết); Họ tên mẹ: Hoàng Thị M1 (đã chết); Vợ: Trần Thị V, sinh năm 1967;, Con: Có 02 con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2007; Gia đình có 12 anh em ruột, bị cáo là con thứ 12;

    - Tiền án: Ngày 19/10/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 06/3/2023 chưa được xóa án tích.

    - Tiền sự: Chưa có;

    - Nhân thân: Ngày 20/6/2013, bị Chủ tịch UBND huyện H, tỉnh Lạng Sơn ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh thời gian 24 tháng, chấp hành xong ngày 09/6/2015.

    Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh B.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Nông Quốc K, sinh năm 1984; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn L, xã H, H, tỉnh Lạng Sơn; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Văn hoá: 6/12; Nghề nghiệp: Tự do; Chức vụ: Không có; Họ tên cha: Nông Quốc A, sinh năm 1957; Họ tên mẹ: Ngô Thị S, sinh năm 1959 (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị M2, sinh năm 1988; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2009; Gia đình có 05 anh em ruột, bị cáo là con thứ ba;

    Tiền án, tiền sự: Chưa có;

    Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh B.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Triệu Văn N, sinh năm 1986; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn L, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Văn hoá: 0/12; Nghề nghiệp: Tự do; Chức vụ: Không có; Họ tên cha: Triệu Tiến H (đã chết); Họ tên mẹ: Triệu Thị T, sinh năm 1966; Vợ: Bàn Thị M3, sinh năm 1990; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2009; Gia đình có 05 chị em ruột, bị cáo là con thứ tư;

    Tiền án, tiền sự: Chưa có;

    Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh B.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  4. Họ và tên: Triệu Văn P, sinh năm 1984; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn L, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Văn hoá: 0/12; Nghề nghiệp: Tự do; Chức vụ: Không có; Họ tên cha: Triệu Tiến H (đã chết); Họ tên mẹ: Triệu Thị T, sinh năm 1966; Vợ: Triệu Thị L, sinh năm 1986; Con: Có 03 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2009; Gia đình có 05 chị em ruột, bị cáo là con thứ ba;

    Tiền án, tiền sự: Chưa có;

    Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh B.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Lưu Tiến H1, sinh năm 1979 - (có đơn xin vắng mặt);
  2. Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1985 - (có đơn xin vắng mặt);
  3. Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

  4. Anh Nông Quốc T1, sinh năm 1988 - (có mặt);
  5. Địa chỉ: Khu C, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

  6. Công ty T5.
  7. Địa chỉ trụ sở: Lầu H, 9, 10 Tòa nhà G, số B đường P, phường F, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

    Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu N1 - Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đình Đ - Phó giám đốc.

Ủy quyền cho ông Đào Văn L2 - Chuyên viên pháp lý tố tụng là nhân viên thuộc phòng Thu hồi nợ của Công ty - địa chỉ: Tầng C, Tòa nhà V, K, phường N, quận B, thành phố Hà Nội - SĐT: 0902.110.xxx - (có đơn xin vắng mặt);

  1. Chị Bàn Thị M3, sinh năm 1990 - (có đơn xin mặt);
  2. Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 00 phút ngày 21/02/2024, tại đồi trồng cây bạch đàn thuộc thôn B, xã Đ, huyện Y của gia đình anh Lưu Tiến H1 (vợ là Nguyễn Thị L1) ở thôn Đ, xã Đ, huyện Y, Công an huyện Y phối hợp với Công an xã Đ, huyện Y bắt quả tang Nông Quốc K, sinh năm 1984, Vy Văn X, sinh năm 1973, đều trú tại thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; Triệu Văn P, sinh năm 1984, Triệu Văn N, sinh năm 1986, đều trú tại thôn L, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm:

  • 01(một) tờ tiền ngân hàng N3 mệnh giá 5.000 đồng gấp bên trong đựng chất cục bột màu trắng (nghi là chất ma túy);
  • Thu giữ của Triệu Văn P 02 (hai) gói giấy bạc, mặt ngoài màu bạc, mặt trong màu trắng, bên trong đựng chất cục bột màu trắng (nghi là chất ma túy) được bọc trong giấy ăn; 01(một) xi lanh đã qua sử dụng; số tiền 31.000 đồng (ba mươi mốt nghìn đồng);
  • Thu giữ của Nông Quốc K 01(một) xi lanh đã qua sử dụng; 01(một) điện thoại di động kiểu dáng kiểu dáng Samsung J7 Prime số IMEI (khe 1): 352810095090931, số IMEI (khe 2) 352811095890939; 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Wave alpha, biển kiểm soát 12H1-505.68; số tiền 350.000 đồng (ba trăm năm mươi nghìn đồng);
  • Thu giữ của Vy Văn X 01 (một) xi lanh đã qua sử dụng; 01(một) điện thoại di động kiểu dáng Realme C11 2021, số IMEI1: 869150053058411, số IMEI2: 869150053058403; số tiền 104.000 đồng (một trăm linh bốn nghìn đồng);
  • Thu giữ của Triệu Văn N 01 (một) xi lanh đựng dung dịch (nghi có chứa chất ma túy); số tiền 27.000 đồng (hai mươi bảy nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 6S, số IMEI: 355420077674654; 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Sirius US biển kiểm soát 12X1-201.58.

Tổ công tác đã tiến hành niêm phong số ma túy, vật chứng có liên quan và đưa các đối tượng về Công xã Đ, huyện Y tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.

Ngày 21/02/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện Y tiến hành khám nghiệm hiện trường tại đồi trồng cây bạch đàn ở thôn B, xã Đ đã thu giữ 01 số mảnh thủy tinh màu trắng, bên ngoài có in chữ màu đỏ tại vị trí số 01; thu 03 túi ni lông tại vị trí kí hiệu số 02, đồng thời tiến hành niêm phong theo quy định của pháp luật. Cùng ngày, Công an xã Đ tiến hành xét nghiệm chất ma túy. Kết quả: Nông Quốc K, Vy Văn X, Triệu Văn N, Triệu Văn P đều dương tính với MORPHIN.

Ngày 21/02/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định gửi Phòng K1- Công an tỉnh B đối với số mẫu vật thu giữ nghi là chất ma túy (các mẫu vật niêm phong trong phong bì kí hiệu (QT; “Xi lanh của Triệu Văn N”; “Xi lanh của Nông Quốc K; “Xi lanh của Vy Văn X; “Xi lanh của Triệu Văn P”).

* Tại Kết luận giám định số 427/KL-KTHS ngày 26/02/2024 của Phòng K1- Công an tỉnh B kết luận:

  • 5.1. Trong 01 (một) phong bì kí hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định:
    • - Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000₫ (năm nghìn đồng) được gấp lại là ma túy, có khối lượng 0,155gam, loại Heroine.
    • - Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 (hai) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc, được đựng trong 01 (một) gói giấy màu trắng (loại giấy ăn) là ma túy, có tổng khối lượng 0,692gam, loại Heroine.
  • 5.2. Trong 01 (một) phong bì kí hiệu “Xi lanh của Nông Quốc K” đã được niêm phong gửi giám định: Không tìm thấy chất ma túy trong 01 (một) xi lanh nhựa màu trắng đã qua sử dụng.
  • 5.3. Trong 01 (một) phong bì kí hiệu “Xi lanh của Triệu Văn P” đã được niêm phong gửi giám định: Không tìm thấy chất ma túy trong 01 (một) xi lanh nhựa màu trắng đã qua sử dụng.
  • 5.4. Trong 01 (một) phong bì kí hiệu “Xi lanh của Vi Văn X1” đã được niêm phong gửi giám định: Không tìm thấy chất ma túy trong 01 (một) xi lanh nhựa màu trắng đã qua sử dụng.

Ngày 21/02/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định gửi V1 - Bộ C1 để giám định dung dịch trong xi lanh của Triệu Văn N có chất ma túy hay không? Nếu có thì là chất ma túy gì? Khối lượng là bao nhiêu?

* Tại Kết luận giám định số 1496/KL-KTHS ngày 12/3/2024 của V1 - Bộ C1 kết luận: Chất lỏng trong xi lanh gửi giám định là dung dịch ma túy Heroine. Thể tích mẫu là 0,5ml; Khối lượng Heroine trong mẫu là 0,017 gam.

Ngày 03/4/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định gửi Phòng K1 - Công an tỉnh B để giám định người có tên trong danh bản, chỉ bản của Vy Văn X và có tên trong danh bản, chỉ bản của Vi Văn S1 có phải là cùng một người không?

* Tại Kết luận giám định số 806/KL-KTHS ngày 11/4/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh B kết luận: Các dấu vân trên danh bản, chỉ bản số 25 do Công an huyện Y lập ngày 27/02/2024, ghi tên Vy Văn X, sinh 1973, nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn so với danh bản, chỉ bản (bản phô tô) số 170 do Công an huyện H lập ngày 10/6/2017, ghi tên Vi Văn S1, sinh năm 1973, nơi ĐKNKTT: thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn là của cùng một người.

Quá trình điều tra, xác định như sau: Buổi sáng ngày 21/02/2024, Triệu Văn N, sinh năm 1986, trú tại thôn L, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12X1-201.58 chở em trai là Triệu Văn P, sinh năm 1984 ở cùng thôn đi chợ H3, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn sau đó cùng nhau vào nhà Vy Văn X, sinh năm 1973, trú tại thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn chơi. Tại đây, N hỏi X: “Anh biết chỗ nào chơi không” (ý N rủ X cùng mua ma túy Heroine về sử dụng) thì X điện thoại cho Nông Quốc K, sinh 1984, trú tại thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn hỏi: “Trên đấy có chỗ nào chơi không”(ý X rủ K cùng mua ma túy Heroine về sử dụng) thì K trả lời: “Có, anh lên đây”. Sau đó, X, P, N đi đến thị trấn M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn gặp K để cùng nhau đi mua ma túy sử dụng. Khi đi đến cổng trường Trung học phổ thông H4 thì X, N, P dừng lại chờ K. Tại đây, X nói với NP: “Ai có bao nhiêu đưa bấy nhiêu” (ý X bảo N và P góp tiền để mua ma túy) và P đưa cho X số tiền 500.000 đồng, N đưa cho X số tiền 450.000 đồng, còn X bỏ ra số tiền 150.000 đồng. Một lúc sau, K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12H1- 505.68 do K mượn của em trai là anh Nông Quốc T1, sinh năm 1988, trú tại khu C, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn đến gặp thì X đưa cho K số tiền 1.100.000 đồng để K đi mua ma túy. K cầm tiền X đưa cho và sử dụng điện thoại SamSung lắp sim số 0369864082 của K gọi đến các số thuê bao 0325.477.846 và 0379.005.694 của một người đàn ông không quen biết hỏi mua ma túy Heroine với số tiền 1.200.000 đồng (trong đó có 100.000 đồng do K góp), người đàn ông đồng ý và bảo K chuyển tiền đến số tài khoản 0379.005.694 của Ngân hàng V2. Sau đó K điều khiển xe mô tô chở X đi trước, N điều khiển xe mô tô chở P đi sau để mua ma túy. Khi đi đến trước cửa quán cắt tóc A Q thuộc địa phận thôn Đ, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn thì K gặp một người thanh niên (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) và nhờ người thanh niên đó chuyển tiền đến số tài khoản 0379.005.694 Ngân hàng V2 của người đàn ông bán ma túy với số tiền 1.100.000 đồng (một triệu một trăm nghìn đồng) rồi K trả tiền mặt cho người thanh niên. Sau đó, K điện thoại cho người đàn ông bán ma túy thì được biết đã nhận được tiền của K và bảo số ma túy K mua được cất giấu trong ống bơ đựng dao lam để ở đoạn mương nước gần Công ty M4, thuộc tổ dân phố V, thị trấn B, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Sau đó, K, X, N, P đi đến địa điểm lấy ma túy thì X, P, N đứng chờ, K xuống xe đi bộ đến đoạn mương nước gần cổng Công ty M4 và lấy trong ống bơ đựng dao lam 02 gói giấy bạc, 01 cục bột màu trắng được bọc trong tờ giấy ăn là ma túy Heroine rồi để lại số tiền 100.000 đồng trong ống bơ. K cầm gói ma túy ra đưa cho X cầm rồi lên xe mô tô chở X đi. Trên đường về gần đến Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, P vào một hiệu thuốc Tân dược (P không quen biết và không nhớ địa chỉ cụ thể) mua 04 chiếc xi lanh, 04 lọ nước Novocain để sử dụng ma túy. Sau đó, K, P, N, X cùng nhau đi lên đồi trồng bạch đàn của gia đình anh Lưu Tiến H1 và chị Nguyễn Thị L1, ở thôn B, xã Đ, huyện Y cùng nhau sử dụng ma túy. Tại đây, X bỏ gói ma túy ra thì thấy có cục ma túy Heroine, bên ngoài 02 gói giấy bạc, P lấy 01 tờ tiền 5.000 đồng ra để đựng rồi bỏ xi lanh, nước cất ra để cùng sử dụng ma túy. Sau đó, K, P, X, N mỗi người tự lấy ma túy, xi lanh, nước Novocain tự pha chế để sử dụng. Khi K, X, P vừa sử dụng hết số ma túy trong xi lanh xong, còn N đang cầm xi lanh chứa dung dịch ma túy vừa sử dụng được một ít thì lực lượng Công an đến kiểm tra, P đã cầm 02 gói giấy bạc bên trong chứa ma túy cất giấu trong túi quần bên phải. Sau đó, K, N, P, X bị tổ công tác Công an huyện Y phối hợp với Công an xã Đ lập biên bản bắt người quả tang, thu giữ số ma túy của P và số vật chứng có liên quan như trên.

Ngày 22/02/2024, Cơ quan điều tra kiểm tra điện thoại Realme C112021, lắp sim 0376401806 của Vy Văn X. Kết quả: có thông tin Vy Văn X dùng số thuê bao 376401806 gọi đến số thuê bao 0369864082 của Nông Quốc K trao đổi mua bán ma túy; kiểm tra điện thoại SamSung lắp sim số 0369864082 của Nông Quốc K có thông tin các cuộc gọi của Vy Văn X sử dụng số thuê bao 0376401806 gọi đến số thuê bao 0369864082 của Nông Quốc K để trao đổi mua bán ma túy; có thông tin Nông Quốc K sử dụng số thuê bao 0369864082 liên lạc đến số thuê bao 0379055694 và 0325477846 để mua ma túy. K trình bày 02 số thuê bao này là của một người đàn ông không quen biết, số thuê bao 0379055694 là số tài khoản Ngân hàng V2 mà K nhờ người thanh niên (không rõ tên tuổi, địa chỉ) chuyển tiền cho người đàn ông để mua ma túy.

Ngày 22/3/2024, Cơ quan điều tra cho Nông Quốc K xác định vị trí lấy ma túy. Kết quả: K xác định vị trí lấy ma túy tại kho để hàng, cách cột mốc có chữ GPMB, phía bên phải đường hướng đi từ thị trấn B vào xã Đ, huyện Y.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nông Quốc K, Cơ quan điều tra xác định đã sử dụng số điện thoại 0325.477.xxx và 0379.005.694; số tài khoản Ngân hàng K chuyển tiền cho người đàn ông mua ma túy là 0379.005.694 Ngân hàng V2. Quá trình điều tra làm rõ chủ thuê bao số điện thoại 0325.477.xxx tên Trần Minh N2, sinh năm 1966, ở C N, L, thành phố T, tỉnh Long An. Kết quả ủy thác điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Long An xác định trên địa bàn xã L, thành phố T, tỉnh Long An không có người tên là Trần Minh N2; các chủ thuê bao số điện thoại 0379.005.xxx tên Cà Thị T2, sinh năm 1986 và chủ số tài khoản 0379.005.694 Ngân hàng V2 tên Lò Thị C, sinh năm 2004, đều ở bản H, xã K, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Kết quả ủy thác điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ xác định tại bản Huổi Xa 2, xã K, huyện Đ, tỉnh Điện Biên có tên Cà Thị T2, sinh năm 1986 và Lò Thị C, sinh năm 2004 có địa chỉ như trên. Qua xác minh chị T2, chị T3 đều không có mặt tại địa phương và không xác định được địa chỉ của hai người này ở đâu, nên không làm việc được. Do đó không đủ căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý đối với người đàn ông bán ma túy cho các bị cáo vào chiều ngày 21/02/2024.

Đối với người đàn ông K nhờ chuyển tiền mua ma túy. Qua xác minh không xác định được người đàn ông này tên, tuổi, địa chỉ ở đâu, K không biết người này là ai, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y không có căn cứ để xử lý.

Chị Nguyễn Thị L1 và anh Lưu Tiến H1 ở thôn Đ, xã Đ không biết các đối tượng tổ chức dụng trái phép chất ma túy tại đồi cây bạch đàn của gia đình, nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý đối với chị L1, anh H1; về các mảnh thủy tinh và 03 túi ni lông Cơ quan điều tra thu giữ tại hiện trường không phải của chị L1 và anh H1, chị L1 và anh H1 không có đề nghị gì.

Đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” của Triệu Văn N ngày 20/02/2024 tại gia đình ở thôn L, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Ngày 14/7/2024, Cơ quan điều tra có công văn gửi Công an xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn để xem xét xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền.

* Đối với các đồ vật, tài sản thu giữ quá trình điều tra xác định:

  • 01 (một) xe mô tô Wave alpha biển kiểm soát 12H1-505.68 K sử dụng đi mua ma túy ngày 21/02/2024 là của anh Nông Quốc T1, sinh năm 1988, trú tại khu C, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn (là em ruột K), chiếc xe này anh T1 có ký Hợp đồng thế chấp số 2W028936564 ngày 07/10/2023 với Công ty T5, quận B, thành phố Hà Nội để vay số tiền 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng) mua xe máy. Thời hạn trả góp 12 kỳ tính từ ngày 02/11/2023 đến ngày 02/10/2024. Ông Nguyễn Hữu N1 - Tổng Giám đốc Công ty có văn bản ủy quyền số 160629-3/GUQ-TGĐ ngày 29/6/2016 cho ông Nguyễn Đình Đ - Phó giám đốc Công ty. Ngày 15/5/2024, ông Nguyễn Đình Đ có văn bản ủy quyền số 240515-9-CCO cho ông Đào Văn L2 là Chuyên viên pháp lý của Công ty tham gia tố tụng và giải quyết các vấn đề liên quan đến vụ án. Anh Tú không biết K mượn chiếc xe và sử dụng đi mua ma túy, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y không có căn cứ để xử lý đối với anh Nông Quốc T1. Kết quả tra cứu chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng, bị cáo K và anh T1 đề nghị được trả lại chiếc xe trên cho anh T1, ông Đào Văn L2 đề nghị trả lại chiếc xe trên cho Công ty để thu hồi nợ.
  • 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Sirius US, 01 (một) đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 12X1-201.58 là tài sản chung của vợ chồng bị cáo N và chị Bàn Thị M3. Kết quả tra cứu chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng, bị cáo N và chị M3 đề nghị được trả lại các tài sản trên; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 6S và số tiền 27.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội, bị cáo N đề nghị được trả lại số tài sản trên.
  • 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng kiểu dáng S2, Nông Quốc K sử dụng vào việc phạm tội; số tiền 350.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội, bị cáo K đề nghị được trả lại số tiền trên.
  • Số tiền 31.000 đồng của Triệu Văn P không liên quan đến hành vi phạm tội, bị cáo P đề nghị được trả lại.
  • 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Realme C11 2021, bị cáo X sử dụng trao đổi với K để mua bán ma túy; số tiền 104.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội, bị cáo X đề nghị được trả lại số tiền trên.
  • 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, các bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội.
  • 04 (bốn) xi lanh nhựa màu trắng các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, một số mảnh vỡ thủy tinh là vỏ lọ nước Novocain, 03 túi nilon màu trắng là vỏ đựng xi lanh các bị cáo vứt lại sau khi sử dụng ma túy.

Đối với số đồ vật, tài sản thu giữ khi bắt quả tang là vật chứng của vụ án, hiện chưa xử lý, được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thế để bảo quản, chờ xử lý.

Cáo trạng số 38/CT-VKS-YT ngày 13/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế truy tố bị can Vy Văn X về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b, điểm h khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; các bị can Nông Quốc K, Triệu Văn NTriệu Văn P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Triệu Văn N xác định chiếc xe mô tô kiểu dáng Sirius US biển kiểm soát 12X1-201.58 là tài sản chung của vợ chồng bị cáo, hai vợ chồng và bản thân bị cáo vẫn thường xuyên sử dụng và phục vụ cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.

Tại phiên tòa hôm nay, sau phần xét hỏi tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế thực hành quyền công tố đã luận tội đối với các bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

a) Về trách nhiệm hình sự:

+ Hình phạt:

  • Căn cứ điểm b, điểm h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38,Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vy Văn X từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/2/2024.
  • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nông Quốc K từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/2/2024.
  • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Triệu Văn N từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/2/2024.
  • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Triệu Văn P từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/2/2024.

b) Xử lý vật chứng

Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, điểm c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS:

+ Tịch thu tiêu gủy gồm:

  • 01 (một) phong bì niêm phong chất ma túy có ký hiệu “QT” có dấu niêm phong của Phòng K1 - Công an tỉnh B, có chữ ký của Giám định viên và đại diện Cơ quan trưng cầu giám định, bên trong có Mẫu chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng được gấp lại là ma túy, loại Heroin còn lại sau giám định 0,140 gam;
  • Mẫu chất cục bột màu trắng đựng trong 02 (hai) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc, được đựng trong 01 (một) gói giấy màu trắng (loại giấy ăn) là ma túy, loại Heroin còn lại sau giám định 0,652 gam;
  • 01 (một) phong bì niêm phong có ký hiệu “Xi lanh của Nông Quốc K” bên trong có 01 (một) xi lanh nhựa màu trắng;
  • 01 (một) phong bì niêm phong có ký hiệu “Xi lanh của Triệu Văn P” bên trong có 01 (một) xi lanh nhựa màu trắng;
  • 01 (một) phong bì niêm phong có ký hiệu “Xi lanh của Vy Văn X” bên trong có 01 (một) xi lanh nhựa màu trắng;
  • 01 (một) vỏ xi lanh loại 3ml/cc và vỏ bao gói trong phong bì niêm phong số 1496/C09(TT2), trên mép dán có hình dấu của V1 và chữ kí, họ tên: Ngô Anh T4, Đoàn Thị Lệ H2.
  • 01 (một) túi niêm phong mã số NS3: 2038467 (bên trong có 03 túi ni lông màu trắng bị xé rách một đầu, bên ngoài có in chữ màu xanh “Bơm tiêm sử dụng một lần”), được dán giấy niêm phong bên ngoài có chữ ký của các thành phần tham gia và dấu của Công an xã Đ.
  • 01 (một) túi niêm phong mã số NS3:2038468 (bên trong có một số mảnh thủy tinh màu trắng, bên ngoài có in chữ màu đỏ), được dán giấy niêm phong bên ngoài có chữ ký của các thành phần tham gia và dấu của Công an xã Đ.

+ Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước:

  • 01 (một) điện thoại di động số IMEI1: 869150053058411, số IMEI2: 869150053058403 kiểu dáng Realme C11 2021, lắp sim số [...] được niêm phong trong phong bì thư, dán kín ký hiệu “Điện thoại Vy Văn X”;
  • 01 (một) điện thoại di động số IMEI (khe 1): 352810095090931, số IMEI (khe 2) 352811095890939 kiểu dáng kiểu dáng S2, lắp sim số 0369864082 được niêm phong trong phong bì thư, dán kín ký hiệu “Điện thoại Nông Quốc K”.
  • Tịch thu 1/2 giá trị 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Sirius US biển kiểm soát 12X1-201.58; 01 (một) đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 12X1-201.58.

+ Trả lại các tài sản gồm:

  • Trả bị cáo Nông Quốc K số tiền 350.000 đồng;
  • Trả bị cáo Triệu Văn P số tiền 31.000 đồng;
  • Trả bị cáo Triệu Văn N 01 (một) điện thoại di động số IMEI: 355420077674654 kiểu dáng Iphone 6S được niêm phong trong phong bì thư, dán kín ký hiệu “Điện thoại Triệu Văn N”; Số tiền 27.000đồng.
  • Trả bị cáo Vy Văn X số tiền 104.000 đồng, nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án;
  • Trả lại anh Nông Quốc T1 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Wave alpha, biển kiểm soát 12H1-505.68.

c) Về án phí

Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo X phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST. Miễn tiền án phí HSST cho các bị cáo N, P, K.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Bị cáo Vy Văn X nói lời sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Nông Quốc K nói lời sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Triệu Văn N nói lời sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Triệu Văn P nói lời sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lưu Tiến H1, chị Nguyễn Thị L1, Công ty T5 và chị Bàn Thị M3 đều được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn xin vắng mặt, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người trên.

[2]. Về tội danh:

Lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều thừa nhận: Hồi 14 giờ 00 phút ngày 21/02/2024, tại đồi cây trồng bạch đàn của gia đình anh Lưu Tiến H1 và chị Nguyễn Thị L1 cùng ở thôn B, xã Đ, huyện Y, Công an huyện Y phối hợp với Công an xã Đ phát hiện bắt quả tang Nông Quốc K, Vy Văn X, Triệu Văn NTriệu Văn P đang có hành tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Cụ thể: K, X, N, P có hành vi rủ nhau sử dụng ma túy và góp tiền để đưa cho K cùng nhau đi mua ma túy, P mua 04 xi lanh, 04 lọ nước N để cùng nhau sử dụng ma túy. Ngoài ra, còn thu giữ của P 02 (hai) gói giấy bạc được đựng trong 01 (một) gói giấy màu trắng (loại giấy ăn) là ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,692gam; thu tại vị trí trước mặt P 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng được gấp lại là ma túy Heroine, có khối lượng 0,155 gam; thu giữ của N 01 (một) xi lanh nhựa bên trong chứa chất lỏng là dung dịch ma túy Heroine, có khối lượng là 0,017gam. Tổng số 0,864 gam ma túy Heroine bị thu giữ, các bị cáo K, X, NP khai nếu không bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện thì sẽ sử dụng hết số ma túy này. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét xử lý K, X, N, P về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với số ma túy thu giữ

Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp về thời gian, địa điểm. Các bị cáo có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, do đó cần buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 38/CT-VKS-YT, ngày 13/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi:

Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo nhận thức rõ việc việc đưa chất ma túy vào cơ thể người khác trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện tội phạm, xâm phạm sự độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm hại đến trật tự công cộng nhưng vì nhu cầu của bản thân các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo còn vi phạm Luật phòng chống ma túy, trực tiếp làm gia tăng tệ nạn ma túy tại địa phương. Nghiện ma túy còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương.

Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn, mua ma túy mục đích tổ chức sử dụng, vai trò của các bị cáo cụ thể như sau: Bị cáo Xá giữ vai trò đầu tiên, bị cáo khi được N rủ, bị cáo bảo N, P góp tiền, P góp 500.000đ, N góp 450.000₫ đưa cho bị cáo, bị cáo bỏ ra 150.000đ, bị cáo điện thoại cho K tìm mua ma túy cùng các bị cáo sử dụng. Bị cáo K giữ vai trò thứ hai, sau khi X đặt vấn đề mua ma túy sử dụng, bị cáo đồng ý, X đưa cho bị cáo 1.100.000đ, bị cáo góp 100.000đ, bị cáo tìm mua ma túy, lấy ma túy cùng các bị cáo sử dụng. Bị cáo N và bị cáo P có vai trò cuối cùng: Bị cáo N là người khởi xướng rủ X mua ma túy sử dụng, góp 450.000đồng, cùng các bị cáo sử dụng ma túy; Bị cáo P, góp số tiền 500.000đ, mua xi lanh, nước cất và cùng các bị cáo sử dụng ma túy.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo N, P thuộc hộ nghèo, bị cáo K thuộc hộ cận nghèo, các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[4]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo Nông Quốc K, Vy Văn X, Triệu Văn NTriệu Văn P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo Nông Quốc K, Vy Văn X, Triệu Văn NTriệu Văn P thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Nông Quốc K có bố đẻ là ông Nông Quốc A được Nhà nước thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang đã có thành tích phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6]. Từ các tình tiết trên, Hội đồng xét xử xét thấy, Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm khách thể là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Hậu quả do hành vi phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy gây ra là rất nghiêm trọng, là nguyên nhân phát sinh một số loại tội phạm như trộm cắp tài sản, cướp tài sản, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Đó cũng là lý do đưa vụ án và các bị cáo ra xét xử ngày hôm nay. Việc xét xử không những có ý nghĩa giáo dục riêng đối với các bị cáo mà còn dăn đe phòng ngừa chung. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, các bị cáo nhận thức rõ chất ma tuý là do Nhà nước độc quyền quản lý cũng như tác hại nhiều mặt của ma tuý gây ra trong đời sống cá nhân, cộng đồng, xong các bị cáo vẫn thực hiện, thể hiện với lỗi cố ý trực tiếp, riêng đối với bị cáo X có nhân thân xấu bị cáo bị Chủ tịch UBND huyện H, tỉnh Lạng Sơn ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh thời gian 24 tháng, chấp hành xong ngày 09/6/2015 và ngày 19/10/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 06/3/2023 nhưng chưa được xóa án tích. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật, có ích cho gia đình và xã hội.

[7]. Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nông Quốc K, Cơ quan điều tra xác định là người đã sử dụng số điện thoại 0325.477.xxx và 0379.005.694; xác định được số tài khoản Ngân hàng K chuyển tiền cho người đàn ông mua ma túy là 0379.005.694 Ngân hàng V2. Quá trình điều tra làm rõ chủ thuê bao số điện thoại 0325.477.xxx tên Trần Minh N2, sinh năm 1966, ở C N, L, thành phố T, tỉnh Long An. Kết quả ủy thác điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Long An xác định trên địa bàn xã L, thành phố T, tỉnh Long An không có người tên là Trần Minh N2; các chủ thuê bao số điện thoại 0379.005.xxx tên Cà Thị T2, sinh năm 1986 và chủ số tài khoản 0379.005.694 Ngân hàng V2 tên Lò Thị C, sinh năm 2004, đều ở bản H, xã K, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Kết quả ủy thác điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ xác định tại bản Huổi Xa 2, xã K, huyện Đ, tỉnh Điện Biên có tên Cà Thị T2, sinh năm 1986 và Lò Thị C, sinh năm 2004 có địa chỉ như trên. Qua xác minh chị T2, chị T3 đều không có mặt tại địa phương và không xác định được địa chỉ hiện tại của hai người này nên không làm việc được. Do đó không đủ căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý đối với người đàn ông bán ma túy cho K vào chiều ngày 21/02/2024 nên không có căn cứ xử lý đối với người đàn ông bán ma túy cho K.

Đối với người đàn ông K nhờ chuyển tiền mua ma túy. Qua xác minh không xác định được người đàn ông này tên, tuổi, địa chỉ ở đâu, K không biết người này là ai, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y không có căn cứ để xử lý đối với người đàn ông K nhờ chuyển tiền mua ma túy.

Đối với chị Nguyễn Thị L1, anh Lưu Tiến H1 ở thôn Đ, xã Đ không biết các đối tượng tổ chức dụng trái phép chất ma túy tại đồi cây bạch đàn của gia đình, nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý đối với chị L1, anh H1 là đúng quy định pháp luật.

Đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” của Triệu Văn N ngày 20/02/2024 tại gia đình ở thôn L, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Ngày 14/7/2024, Cơ quan điều tra có công văn gửi Công an xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn để xem xét xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền là đúng quy định pháp luật.

[8]. Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) phong bì niêm phong chất ma túy có ký hiệu “QT” có dấu niêm phong của Phòng K1 - Công an tỉnh B, có chữ ký của Giám định viên và đại diện Cơ quan trưng cầu giám định, bên trong có Mẫu chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng (năm nghìn đồng) được gấp lại là ma túy, loại Heroin còn lại sau giám định 0,140 gam; Mẫu chất cục bột màu trắng đựng trong 02 (hai) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc, được đựng trong 01 (một) gói giấy màu trắng (loại giấy ăn) là ma túy, loại Heroin còn lại sau giám định 0,652 gam là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 (một) phong bì có ký hiệu “Xi lanh của Nông Quốc K” bên trong có 01 (một) xi lanh nhựa màu trắng; 01 (một) phong bì có ký hiệu “Xi lanh của Triệu Văn P” bên trong có 01 (một) xi lanh nhựa màu trắng; 01 (một) phong bì có ký hiệu “Xi lanh của Vy Văn X” bên trong có 01 (một) xi lanh nhựa màu trắng; 01 (một) vỏ xi lanh loại 3ml/cc và vỏ bao gói trong niêm phong số 1496/C09(TT2), trên mép dán có hình dấu của V1 và chữ kí, họ tên: Ngô Anh T4, Đoàn Thị Lệ H2 là công cụ phạm tội, không có giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 (một) điện thoại di động số IMEI1: 869150053058411, số IMEI2: 869150053058403 kiểu dáng Realme C11 2021, lắp sim số [...] được niêm phong trong phong bì thư, dán kín ký hiệu “Điện thoại Vy Văn X” là công cụ sử dụng vào việc tổ chức sử dụng ma túy cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 (một) điện thoại di động số IMEI (khe 1): 352810095090931, số IMEI (khe 2) 352811095890939 kiểu dáng kiểu dáng S2, lắp sim số 0369864082 được niêm phong trong phong bì thư, dán kín ký hiệu “Điện thoại Nông Quốc K” là công cụ sử dụng vào việc tổ chức sử dụng ma túy cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

Đối với 01(một) điện thoại di động số IMEI: 355420077674654 kiểu dáng Iphone 6S được niêm phong trong phong bì thư, dán kín ký hiệu “Điện thoại Triệu Văn N” không không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo N.

Đối với số tiền ngân hàng N3: 512.000 đồng (Năm trăm mười hai nghìn đồng). Trong đó: 350.000 của bị cáo K; 31.000 đồng của bị cáo P; 104.000 đồng của bị cáo X; 27.000đồng của bị cáo N là tài sản của các bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo nhưng tạm giữ số tiền 104.000 đồng của bị cáo X để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Wave alpha, biển kiểm soát 12H1-505.68. bị cáo K sử dụng đi mua ma túy ngày 21/02/2024 là của anh Nông Quốc T1 (là em ruột K), chiếc xe này anh T1 có ký Hợp đồng thế chấp số 2W028936564 ngày 07/10/2023 với Công ty T5, quận B, TP Hà Nội vay số tiền 16.000.000 đồng mua xe máy. Thời hạn trả góp 12 kỳ tính từ ngày 02/11/2023 đến ngày 02/10/2024, anh T1 không biết K mượn chiếc xe và sử dụng đi mua ma túy, nên Cơ quan điều tra Công an huyện Y không có căn cứ để xử lý đối với Nông Quốc T1. Kết quả tra cứu chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng, bị cáo K và anh T1 đề nghị được trả lại chiếc xe trên cho anh T1, ông Đào Văn L2 đại diện theo ủy quyền của Công ty đề nghị trả lại chiếc xe trên cho Công ty để thu hồi nợ thì Hội đồng xét xử thấy rằng thời hạn trả góp 12 kỳ tính từ ngày 02/11/2023 đến ngày 02/10/2024. Như vậy, Hợp đồng thế chấp số 2W028936564 ngày 07/10/2023 giữa Công ty T5, quận B, TP Hà Nội với anh Nông Quốc T1 vẫn đang được thực hiện. Mặt khác, chiếc xe là vật chứng của vụ án, chiếc xe trên mang tên chủ sở hữu là anh Nông Quốc T1, việc Công ty T5 yêu cầu giao xe cho công ty để thu hồi nợ là quan hệ pháp luật dân sự, Công ty có quyền khởi kiện vụ án dân sự khác để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại xe cho anh Nông Quốc T1 theo quy định tại khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Sirius US biển kiểm soát 12X1-201.58; 01 (một) đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 12X1-201.58 là tài sản chung của bị cáo N và chị M3, bị cáo N sử dụng đi mua ma túy ngày 21/02/2024; chị M3 không biết bị cáo N sử dụng đi mua ma túy và đi sử dụng trái phép chất ma túy. Chiếc xe trên hiện tại vợ chồng bị cáo N và chị M3 vẫn thường xuyên sử dụng phục vụ cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Hội đồng xét xử xác định bị cáo dùng tài sản chung của vợ chồng làm công cụ, phương tiện phạm tội, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự thì phải tịch thu toàn bộ công cụ, phương tiện đó. Nếu chị M3 có tranh chấp về quyền sở hữu hoặc yêu cầu bồi thường một phần giá trị của tài sản chung mà bị cáo dùng làm công cụ phương tiện phạm tội thì có quyền khởi kiện vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự để đảm vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Đối với 01 (một) túi niêm phong mã số NS3: 2038467 (bên trong có 03 túi ni lông màu trắng bị xé rách một đầu, bên ngoài có in chữ màu xanh “Bơm tiêm sử dụng một lần”), được dán giấy niêm phong bên ngoài có chữ ký của các thành phần tham gia và dấu của Công an xã Đ là vật chứng vụ án không có giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 (một) túi niêm phong mã số NS3:2038468 (bên trong có một số mảnh thủy tinh màu trắng, bên ngoài có in chữ màu đỏ), được dán giấy niêm phong bên ngoài có chữ ký của các thành phần tham gia và dấu của Công an xã Đ là vật chứng vụ án không có giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy.

[9]. Về án phí: Bị cáo Vy Văn X phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo N, P thuộc hộ nghèo, bị cáo K thuộc hộ cận nghèo nên miễn án phí cho bị cáo Triệu Văn N, bị cáo Triệu Văn P và bị cáo Nông Quốc K.

[10]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình phạt và tội danh:

1.1. Căn cứ vào điểm b, điểm h khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Vy Văn X 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/2/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vy Văn X.

1.2. Căn cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nông Quốc K 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/2/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nông Quốc K.

1.3. Căn cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Triệu Văn N 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/2/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Triệu Văn N.

1.4. Căn cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Triệu Văn P 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/2/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Triệu Văn P.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; Các điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

2.1. Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 (một) phong bì niêm phong chất ma túy có ký hiệu “QT” có dấu niêm phong của Phòng K1 - Công an tỉnh B, có chữ ký của Giám định viên và đại diện Cơ quan trưng cầu giám định, bên trong có Mẫu chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng (năm nghìn đồng) được gấp lại là ma túy, loại Heroin còn lại sau giám định 0,140 gam; Mẫu chất cục bột màu trắng đựng trong 02 (hai) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc, được đựng trong 01 (một) gói giấy màu trắng (loại giấy ăn) là ma túy, loại Heroin còn lại sau giám định 0,652 gam;
  • 01 (một) phong bì có ký hiệu “Xi lanh của Nông Quốc K” bên trong có 01 (một) xi lanh nhựa màu trắng; 01 (một) phong bì có ký hiệu “Xi lanh của Triệu Văn P” bên trong có 01 (một) xi lanh nhựa màu trắng; 01 (một) phong bì có ký hiệu “Xi lanh của Vy Văn X” bên trong có 01 (một) xi lanh nhựa màu trắng; 01 (một) vỏ xi lanh loại 3ml/cc và vỏ bao gói trong niêm phong số 1496/C09(TT2), trên mép dán có hình dấu của V1 và chữ kí, họ tên: Ngô Anh T4, Đoàn Thị Lệ H2.
  • 01 (một) túi niêm phong mã số NS3: 2038467 (bên trong có 03 túi ni lông màu trắng bị xé rách một đầu, bên ngoài có in chữ màu xanh “Bơm tiêm sử dụng một lần”), được dán giấy niêm phong bên ngoài có chữ ký của các thành phần tham gia và dấu của Công an xã Đ.
  • 01 (một) túi niêm phong mã số NS3:2038468 (bên trong có một số mảnh thủy tinh màu trắng, bên ngoài có in chữ màu đỏ), được dán giấy niêm phong bên ngoài có chữ ký của các thành phần tham gia và dấu của Công an xã Đ.

2.2. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:

  • 01 (một) điện thoại di động số IMEI1: 869150053058411, số IMEI2: 869150053058403 kiểu dáng Realme C11 2021, lắp sim số [...] được niêm phong trong phong bì thư, dán kín ký hiệu “Điện thoại Vy Văn X”;
  • 01 (một) điện thoại di động số IMEI (khe 1): 352810095090931, số IMEI (khe 2) 352811095890939 kiểu dáng kiểu dáng S2, lắp sim số 0369864082 được niêm phong trong phong bì thư, dán kín ký hiệu “Điện thoại Nông Quốc K”;
  • 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Sirius US biển kiểm soát 12X1-201.58; 01 (một) đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 12X1-201.58.

2.3. Trả lại các tài sản:

  • Trả lại bị cáo Triệu Văn N: 01(một) điện thoại di động số IMEI: 355420077674654 kiểu dáng Iphone 6S được niêm phong trong phong bì thư, dán kín ký hiệu “Điện thoại Triệu Văn N”; số tiền: 27.000 đồng (hai mươi bẩy nghìn đồng)
  • Trả lại bị cáo Nông Quốc K: số tiền 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng)
  • Trả lại bị cáo Triệu Văn P: Số tiền 31.000 đồng (Ba mươi mốt nghìn đồng)
  • Trả lại bị cáo Vy Văn X: Số tiền 104.000 đồng (Một trăm linh bốn nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • Trả lại anh Nông Quốc T1 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Wave alpha, biển kiểm soát 12H1-505.68.

3. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: bị cáo Vy Văn X phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nông Quốc K, bị cáo Triệu Văn P, bị cáo Triệu Văn N.

Trường hợp quyết định thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo đúng quy định tại Điều 6,7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
  • - VKSND huyện Yên Thế;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - CQĐT, CQTHAHS Công an huyện Yên Thế;
  • - Trại Tạm giam CA tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Lê Hồng Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 46/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồi 14 giờ 00 phút ngày 21/02/2024, tại đồi cây trồng bạch đàn của gia đình anh Lưu Tiến H1 và chị Nguyễn Thị L1 cùng ở thôn B, xã Đ, huyện Y, Công an huyện Y phối hợp với Công an xã Đ phát hiện bắt quả tang Nông Quốc K, Vy Văn X, Triệu Văn N và Triệu Văn P đang có hành tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Cụ thể: K, X, N, P có hành vi rủ nhau sử dụng ma túy và góp tiền để đưa cho K cùng nhau đi mua ma túy, P mua 04 xi lanh, 04 lọ nước N để cùng nhau sử dụng ma túy. Ngoài ra, còn thu giữ của P 02 (hai) gói giấy bạc được đựng trong 01 (một) gói giấy màu trắng (loại giấy ăn) là ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,692gam; thu tại vị trí trước mặt P 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng được gấp lại là ma túy Heroine, có khối lượng 0,155 gam; thu giữ của N 01 (một) xi lanh nhựa bên trong chứa chất lỏng là dung dịch ma túy Heroine, có khối lượng là 0,017gam. Tổng số 0,864 gam ma túy Heroine bị thu giữ, các bị cáo K, X, N và P khai nếu không bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện thì sẽ sử dụng hết số ma túy này. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét xử lý K, X, N, P về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với số ma túy thu giữ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger