|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2024/HNGĐ-ST Ngày 18/9/2024 V/v: tranh chấp ly hôn, con chung cấp dưỡng nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thế Đăng
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Văn Chiến
- 2. Bà Nguyễn Thị Cương
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 59/2024/TLST-HNGĐ ngày 02/5/2024 về việc "tranh chấp ly hôn, con chung, cấp dưỡng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26/8/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thùy T, sinh năm 1985
- Địa chỉ: Khu H, ấp M, xã M, huyện P, Thành phố Cần Thơ.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1983
- Địa chỉ: Số nhà G Tổ dân phố C, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- (Chị T đề nghị xét xử vắng mặt. Anh N có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Nguyên đơn là chị Nguyễn Thùy T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thùy T và anh Nguyễn Văn N có sự tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 05/10/2010, tại Ủy ban nhân dân phường T, quận B, thành phố Cần Thơ. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống tại nhà hát T2, ấp M, xã M, huyện P, Thành phố Cần Thơ. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị là do gia đình neo đơn, anh N quê ở ngoài Bắc phải chung sống cùng gia đình nhà vợ trong N, điều kiện kinh tế không thoải mái, anh N lý do phải gồng gánh gia đình vợ, không lo cho gia đình bố mẹ đẻ được, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh N ra Bắc với lý do để phụng dưỡng bố, mẹ đẻ và bỏ mẹ con chị trong N. Trước khi về B, vợ chồng chị thỏa thuận anh N giao thẻ lương lại để chu cấp cho chị nuôi 02 con chung, thực tế 04 tháng anh N không thực hiện đủ theo thỏa thuận. Nay chị không còn tình cảm vợ chồng với anh N, chị yêu cầu ly hôn anh N.
- Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Nam S, sinh ngày 04/8/2010 và cháu Nguyễn Nam T1, sinh ngày 28/3/2016. Hiện 02 cháu đang ở cùng chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu nuôi cả 2 cháu, chị yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị với số tiền 2.000.000đồng/tháng/1cháu.
- Về tài sản, công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do ở xa, đi lại khó khăn, chị đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
* Bị đơn là anh Nguyễn Văn N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thùy T tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 05/10/2010, tại Ủy ban nhân dân phường T, quận B, thành phố Cần Thơ. Sau kết hôn, anh và chị T về chung sống tại nhà hát T2, ấp M, xã M, huyện P, tỉnh Cần Thơ. Do hoàn cảnh gia đình anh neo đơn, bố mẹ anh cao tuổi nên anh phải về phụng dưỡng cha mẹ, anh thuyết phục chị T cùng về quê anh sinh sống, nhưng chị T không muốn về và làm đơn ly hôn anh. Nay anh không thể chung sống được với chị T, anh đồng ý ly hôn chị T.
- Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Nam S, sinh ngày 04/8/2010 và cháu Nguyễn Nam T1, sinh ngày 28/3/2016. Hiện 2 cháu đang ở cùng chị T. Khi ly hôn, anh có nguyện vọng nuôi 01 cháu.
- Về tài sản, công nợ chung, công sức đóng góp trong thời gian ở chung: Anh N, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa: Chị T vắng mặt. Anh N có mặt trình bày: Từ năm 2022 anh chị xảy ra mâu thuẫn và ly thân từ tháng 7/2023 khi anh trở về quê sinh sống. Nay anh đồng ý ly hôn chị T. Anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung là cháu Nguyễn Nam S. Anh không chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị T.
* Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T, cho chị T ly hôn anh N. Giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Nam T1. Giao cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Nam S. Không chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị T. Buộc chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp và tố tụng: Chị T nộp đơn yêu cầu ly hôn và yêu cầu được nuôi con chung, yêu cầu cấp dưỡng đối với anh N cư trú tại huyện Y. Tòa án nhân dân huyện Yên Thế thụ lý giải quyết vụ án “tranh chấp ly hôn, con chung, cấp dưỡng” là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị T vắng mặt nhưng chị đã đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T.
[2] Về yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh N:
Chị Nguyễn Thùy T và anh Nguyễn Văn N tự nguyện kết hôn, hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, có đăng ký kết hôn ngày 05/10/2010 tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận B, Thành phố Cần Thơ nên hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống tại nhà hát T2, ấp M, xã M, huyện P, tỉnh Cần Thơ. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vấn đề kinh tế gia đình và anh N muốn về quê Bắc Giang sinh sống phụng dưỡng bố mẹ, còn chị T không muốn về cùng, vợ chồng bất đồng quan điểm nên tháng 7/2023 anh N chuyển về quê ở huyện Y công tác, sinh sống còn chị T tiếp tục sinh sống tại Thành phố Cần Thơ. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay chị T không còn tình cảm vợ chồng với anh N, chị T yêu cầu ly hôn, anh N đồng ý. Qua xác minh, gia đình anh N cho biết, anh chị mâu thuẫn do anh N chuyển về quê làm việc, sinh sống còn chị T không về cùng anh N mà vẫn ở lại trong Thành phố Cần Thơ dẫn đến vợ chồng cãi vã mâu thuẫn và chị T yêu cầu ly hôn anh N. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, thực tế anh chị đã không còn chung sống cùng nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T, cho chị T ly hôn anh N.
[3] Về con chung: Chị T và anh N có 02 con chung là cháu Nguyễn Nam S, sinh ngày 04/8/2010 và cháu Nguyễn Nam T1, sinh ngày 28/3/2016, hiện 2 cháu đang ở cùng chị T tại Thành phố Cần Thơ. Khi ly hôn, cả chị T và anh N đều có nguyện vọng nuôi con, chị T yêu cầu nuôi cả 2 cháu, còn anh N yêu cầu nuôi cháu S, cháu T1 để chị T nuôi.
Xét thấy, hiện 2 cháu đang ở cùng chị T, sức khỏe và học tập của các cháu đều bình thường, các cháu đều có nguyện vọng ở với chị T. Về điều kiện nuôi con, chị T có thu nhập trên 6.000.000 đồng/tháng, anh N là cán bộ Trung tâm văn hóa huyện Y có mức lương 9.000.000đồng/tháng. Như vậy, cả chị T và anh N đều có thu nhập ổn định, có điều kiện nuôi con. Mặc dù cháu S, cháu T1 đều có nguyện vọng ở với chị T nhưng để đảm bảo quyền nuôi dưỡng con chung của hai bên, chia sẻ trách nhiệm nuôi con cho cả hai anh chị và để các cháu được hưởng sự quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng tốt nhất. Cần giao cháu Nguyễn Nam S cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Nam T1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T với số tiền 2.000.000đồng/ tháng/1 con, còn anh N không chấp nhận cấp dưỡng do anh N cũng có nguyện vọng nuôi cháu S và anh không yêu cầu chị T cấp dưỡng. Xét thấy, Hội đồng xét xử đã giao cho anh N nuôi cháu S, giao cho chị T nuôi cháu T1. Anh chị đều có điều kiện hoàn cảnh như nhau, nhu cầu của các cháu như nhau. Nay mỗi người đều phải nuôi dưỡng một con chung nên không chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị T.
[5] Về tài sản, công nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[7] Về quyền kháng cáo: Chị T và anh N có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81; khoản 1, khoản 3 Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thùy T ly hôn anh Nguyễn Văn N.
- Về con chung:
- - Giao cho chị Nguyễn Thùy T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Nam T1, sinh ngày 28/3/2016.
- - Giao cho anh Nguyễn Văn N trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Nam S, sinh ngày 04/8/2010.
- - Sau khi ly hôn, chị T và anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở chị T và anh N thực hiện quyền, nghĩa vụ này.
- - Về cấp dưỡng nuôi con: Không chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị Nguyễn Thùy T đối với anh Nguyễn Văn N.
- Về tài sản, công nợ: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
Chị Nguyễn Thùy T phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0004919 ngày 02/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị T đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Anh Nam có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Chị T vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thế Đăng |
Bản án số 46/2024/HNGĐ-ST ngày 18/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, con chung cấp dưỡng nuôi con.
- Số bản án: 46/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, con chung cấp dưỡng nuôi con.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Tr ly hôn anh N
