|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 46/2024/DS-ST Ngày 11/9/2024 V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kim Niệm;
Bà Võ Thị Thu Thảo.
Thư ký phiên tòa: Ông Trương Thành Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 127/2024/TLST-DS ngày 03/5/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST-DS ngày 31/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Kim H, sinh năm 1984; địa chỉ: Khu phố B, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Đoàn Thị T, sinh năm 1990; địa chỉ: Khu phố B, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Phạm Thị Kim H trình bày:
Vào ngày 02/9/2022, bà và bà Đoàn Thị T ký kết hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng thửa đất số 680, tờ bản đồ số 57 tại thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương với giá chuyển nhượng 2.000.000.000đ. Bà đã đặt cọc cho bà T số tiền 200.000.000đ, sau khi đặt cọc bà T đã không thực hiện nội dung theo hợp đồng đặt cọc, không thực hiện thủ tục sang tên mà bán cho ông Đào Hữu H1 vào ngày 29/8/2022 với giá 1.950.000.000đ, bà T đã vi phạm hợp đồng đặt cọc, bà đã liên lạc nhiều lần yêu cầu bà T trả lại tiền cọc và bồi thường hợp đồng thì bà T cho rằng giấy tờ bị trục trặc nên ngày 20/9/2022 bà T viết hẹn ngày trả lại tiền cọc cho bà và bồi thường gấp đôi số tiền đã nhận là 400.000.000đ vào ngày 23/9/2022. Tuy nhiên, đến ngày trả tiền bà T không trả như cam kết nên làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên hủy hợp đồng ngày 02/9/2022 giữa bà Phạm Thị Kim H và bà Đoàn Thị T; buộc bà Đoàn Thị T trả lại tiền đặt cọc 200.000.000đ và bồi thường 200.000.000đ.
Bị đơn bà Đoàn Thị T đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng bà T vắng mặt không có lý do, đồng thời cũng không có ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Kim H.
Tại bản tự khai, người làm chứng ông Phạm Xuân H2 trình bày: Vào ngày 02/9/2022 tại quán C, đường H thuộc khu phố B, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương ông chứng kiến toàn bộ việc bà Phạm Thị Kim H đặt cọc mua của bà Đoàn Thị T thửa đất có diện tích ngang 10m, dài 54,75m thửa số 680, tờ bản đồ 75, tại khu phố E, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương giá 02 tỷ đồng, bà H đã đặt cọc 200.000.000 đ, bà T đã nhận tiền 200 triệu đồng. Thời hạn đặt cọc là 15 ngày, bà T lo hồ sơ đến ngày 17/9/2022 đến phòng công chứng ký hợp đồng sang tên. Tuy nhiên, đến ngày 17/9/2022 bà T không làm các thủ tục công chứng sang tên theo hợp đồng đặt cọc, do ông là người làm chứng đã nhiều lần điện thoại, nhắn tin yêu cầu bà T thực hiện hợp đồng nhưng bà T chỉ hứa hẹn nhiều lần vẫn không thực hiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình thụ lý, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 02/9/2022 (B) cho thấy có việc đặt cọc tiền chuyển nhượng trên, có người làm chứng chứng kiến, mặt sau của hợp đồng có dòng chữ bà T hẹn đến ngày 23/9/2022 trả lại tiền cọc và bồi thường cọc cho bên mua là 400.000.000 đồng. Nhận thấy các bên thừa nhận thì đây là tình tiết không cần phải chứng minh.
Căn cứ Điều 91, 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 116,117 và khoản 4 Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc. Buộc bị đơn trả lại số tiền đã đặt cọc 200.000.000 đồng và phạt cọc 200.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn tranh chấp hợp đồng đặt cọc với bị đơn nên đây là vụ án “tranh chấp hợp đồng đặt cọc”. Do bị đơn cư trú tại huyện P, tỉnh Bình Dương, nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo giải quyết nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Phạm Thị Kim H, người làm chứng ông Phạm Xuân H2 đã có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228, 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.
[3] Về nội dung vụ án: Nguyên đơn cho rằng bị đơn vi phạm hợp đồng đặt cọc lý do không thực hiện được là do bị đơn không thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên đã vi phạm hợp đồng đặt cọc, ngày 20/9/2022 bị đơn đã cam kết trả nguyên đơn số tiền 400.000.000đ. Do bị đơn đã bán thửa đất trên và không có thiện chí bán nữa, nên yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc ngày 02/9/2022 giữa nguyên đơn và bị đơn và buộc bị đơn trả cọc và phạt cọc 400.000.000 đ. Bị đơn được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không có mặt không có ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
HĐXX nhận thấy:
[4] Xét hợp đồng đặt cọc: Các đương sự ký kết hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích khoảng 551.5m² thuộc thửa đất số 680, tờ bản đồ số 57 tại thị trấn P, huyện P với tổng giá trị chuyển nhượng là 2.000.000.000 đồng, chứng cứ là hợp đồng đặt cọc ngày 02/9/2022 có chữ ký của bà H, nguyên đơn đã giao số tiền cọc cho bị đơn là 200.000.000 đồng, thỏa thuận ngày 17/9/2022 hai bên sẽ ra Văn phòng công chứng và sẽ giao đủ số tiền còn lại. Hết ngày 17/9/2022 bị đơn cho rằng giấy tờ bị trục trặc không thực hiện ký kết hợp đồng chuyển nhượng nên ngày 20/9/2022 bị đơn cam kết trả nguyên đơn 400.000.000 đ vào ngày 23/9/2022. Tuy nhiên, đến ngày giao tiền bị đơn né tránh nên nguyên đơn có đơn yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc ngày 02/9/2022 là có căn cứ.
Về hậu quả của hủy hợp đồng: Ngày 20/9/2022 bị đơn cam kết trả nguyên đơn tiền cọc 200.000.000đ và bồi thường 200.000.000đ đây là chứng cứ không phải chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn có trách nhiệm trả tiền cọc và bồi thường tiền cọc cho nguyên đơn số tiền 400.000.000 đ.
[5] Như vậy, từ những chứng cứ nêu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc và yêu cầu trả cọc, bồi thường cọc là có cơ sở chấp nhận. HĐXX căn cứ Điều 328 của Bộ luật Dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” hủy hợp đồng đặt cọc ngày 02/9/2022 giữa nguyên đơn và bị đơn, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 400.000.000đ.
[6] Đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí theo Điều 23, 26 Nghị quyết số326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 116, 117, 328 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Kim H đối với bị đơn bà Đoàn Thị T về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
2. Buộc bà Đoàn Thị T phải có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Thị Kim H số tiền 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng).
3. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc bà Đoàn Thị T phải phải có nghĩa vụ nộp 10.300.000đ (mười triệu ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả cho bà Phạm Thị Kim H 5.300.000đ (năm triệu ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003170 ngày 26/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hiên |
4
Bản án số 46/2024/DS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 46/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp cọc
