Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LONG BIÊN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/KDTM-ST

Ngày: 10/9/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hồng Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Xuân Luyện

Ông Tạ Đức Minh

- Thư ký phiên toà: Ông Dương Tuấn Duy - Thư ký Toà án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Vũ Trường Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 10/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 04/2024/TLST-KDTM ngày 02 tháng 01 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST-KDTM ngày 05 tháng 8 năm 2024, giữa:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V; địa chỉ trụ sở: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội; người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chức danh: Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng; người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn A - Chức danh: Giám đốc Trung tâm xử lý nợ pháp lý theo (Văn bản ủy quyền số 25/2020/UQ-HĐQT ngày 07/07/2020). Ông Phạm Tuấn A ủy quyền lại cho ông Phạm Trung H - Là cán bộ xử lý nợ (Văn bản ủy quyền số 174/UQ-LCC-KHDNMB01 ngày 17/4/2024); địa chỉ liên hệ: Tầng G, Tòa nhà V, số G, đường D, quận C, thành phố Hà Nội. “Có mặt”.

- Bị đơn: Công ty Cổ phần L1; địa chỉ: Số A ngõ D phố Đ, tổ B, phường T, quận L, thành phố Hà Nội; người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Thái L, chức vụ: Giám đốc; địa chỉ: Số A ngõ D phố Đ, tổ B, phường T, quận L, thành phố Hà Nội. “Vắng mặt”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Vũ Thế D1, sinh năm 1984; địa chỉ: Xóm C, xã X, huyện X; tỉnh Nam Định. “Vắng mặt”.
  2. Bà Đào Thị Thu T, sinh năm 1989; địa chỉ: Số A ngõ D phố Đ, tổ B, phường T, quận L, thành phố Hà Nội. “Vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 17/09/2020 Ngân hàng TMCP V - Chi nhánh N (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) ký Hợp đồng cho vay hạn mức số: 150920-4468422-01-SME, Phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 12/5/2021, Phụ lục hợp đồng số 02/PLHĐ ngày 22/09/2021 và các khế ước nhận nợ kèm theo với Công ty Cổ phần L1 (Sau đây gọi tắt bên vay) vay vốn của Ngân hàng với tổng số tiền là 1.500.000.000 đồng. Cụ thể như sau:

Mục đích sử dụng tiền vay: Bổ sung vốn kinh doanh phục vụ hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng dệt may của bên vay. Lãi suất cho vay trong hạn: được quy định trong (các) Khế ước nhận nợ ký giữa bên vay và bên Ngân hàng. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Các khế ước nhận nợ:

  • Khế ước nhận nợ số: 170920-4468422-01-SME ngày 17/09/2020; Số tiền nhận nợ: 69.607.077 đồng; Tạm tính đến ngày 10/09/2024, Công ty Cổ phần L1 còn nợ Ngân hàng số tiền như sau: Đã trả: Gốc: 9,322,574 đồng; Lãi: 4,533,822 đồng; Nợ gốc: 60,284,503 đồng; Nợ lãi: 37,011,503 đồng; Phạt chậm trả: 5,945,006 đồng. Tổng cộng: 103,241,012 đồng;
  • Khế ước nhận nợ số: 120520-4468422-01-SME ngày 12/05/2021; Số tiền nhận nợ: 606.000.000 đồng; Tạm tính đến ngày 10/09/2024, Công ty Cổ phần L1 còn nợ Ngân hàng số tiền như sau: Đã trả: Gốc: 242,500,000 đồng; Lãi: 50,991,957 đồng; Nợ gốc: 363,500,000 đồng; Nợ lãi: 236,411,386 đồng; Phạt chậm trả: 37,932,779 đồng. Tổng cộng: 637,844,165 đồng;
  • Khế ước nhận nợ số: 070721-4468422-ONL-2 ngày 07/07/2021; Số tiền nhận nợ: 330.000.000 đồng; Tạm tính đến ngày 10/09/2024, Công ty Cổ phần L1 còn nợ Ngân hàng số tiền như sau: Đã trả: Gốc: 95,000,000 đồng, Lãi: 26,706,292 đồng; Nợ gốc: 235,000,000 đồng; Nợ lãi: 146,165,818 đồng; Phạt chậm trả: 23,749,095 đồng. Tổng cộng: 404,914,913 đồng;
  • Khế ước nhận nợ số: 290121-4468422-01-SME ngày 29/01/2021; Số tiền nhận nợ: 342.000.000 đồng; Tạm tính đến ngày 10/09/2024, Công ty Cổ phần L1 còn nợ Ngân hàng số tiền như sau: Đã trả: Gốc: 217,500,000 đồng; Lãi: 28,480,091 đồng; Nợ gốc: 124,500,000 đồng; Nợ lãi: 87,347,197 đồng; Phạt chậm trả: 14,738,281 đồng. Tổng cộng: 226,585,478 đồng;
  • Khế ước nhận nợ số: 031220-4468422-01-SME ngày 03/12/2020; Số tiền nhận nợ: 470.000.000 đồng; Tạm tính đến ngày 10/09/2024, Công ty Cổ phần L1 còn nợ Ngân hàng số tiền như sau: Đã trả: Gốc: 366,000,000 đồng; Lãi: 39,929,461 đồng; Nợ gốc: 104,000,000 đồng; Nợ lãi: 76,963,755 đồng; Phạt chậm trả: 13,117,813 đồng. Tổng cộng: 194,081,568 đồng.

Trong từng khế ước còn quy định: Thời hạn vay: 12 tháng, tính từ ngày tiếp theo của ngày Ngân hàng giải ngân số tiền cho vay; Lãi suất cho vay trong hạn: 16%/năm; Việc điều chỉnh định lãi suất; Biên độ điều chỉnh lãi suất là 9.2%/năm.

Để bảo đảm các khoản vay trên Ngân hàng ký hai hợp đồng bảo lãnh, cụ thể: Hợp đồng bảo lãnh số: 150920-4468422-01-SME/HĐBL ngày 17/09/2020 và Hợp đồng bảo lãnh số: 01/HĐBL ngày 12/05/2021, bên bảo lãnh là ông Vũ Thế D1 và bà Đào Thị Thu T đã đồng ý dùng toàn bộ tài sản của mình bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang cho Công ty Cổ phần L1 trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ bao gồm: Trả nợ gốc, lãi, các khoản phí, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại, các chi phí và tất cả các nghĩa vụ khác của Công ty Cổ phần L1 với Ngân hàng phát sinh từ Hợp đồng cho vay hạn mức số: 150920-4468422-01-SME ngày 17/09/2020, Phụ lục hợp đồng số 01/PLHD ngày 12/5/2021, Phụ lục hợp đồng số 02/PLHĐ ngày 22/09/2021 và các hợp đồng, văn bản tín dụng khác ký giữa Công ty Cổ phần L1 và Ngân hàng bao gồm cả các phụ lục, văn bản sửa đổi, bổ sung, các khế ước nhận nợ và văn bản liên quan.

Quá trình thực hiện Hợp đồng: Công ty Cổ phần L1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng. Do đó, Ngân Hàng đã chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn với mức lãi suất quá hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ. Tạm tính đến ngày 10/09/2024, Công ty Cổ phần L1 còn nợ Ngân hàng tổng số tiền như sau: Nợ gốc: 887,284,503 đồng; Nợ lãi: 583,899,659 đồng; P chậm trả: 95,482,974 đồng; Tổng cộng: 1,566,667,136 đồng (Một tỷ, năm trăm sáu mươi sáu triệu, sáu trăm sáu mươi bảy nghìn, một trăm ba mươi sáu đồng).

Yêu cầu Tòa án buộc Công ty Cổ phần L1 phải thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm trả và các khoản phát sinh liên quan theo Hợp đồng tín dụng nêu trên tạm tính đến ngày 10/9/2024.

Trong trường hợp Công ty Cổ phần L1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng, đề nghị Tòa án buộc ông Vũ Thế D1 và bà Đào Thị Thu T có nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty Cổ phần L1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm trả và các khoản phát sinh liên quan theo Hợp đồng cho vay và các khế ước nhận nợ nêu trên.

- Đề nghị Tòa án tiếp tục tính lãi theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay và khế ước nhận nợ nêu trên cho đến ngày Công ty Cổ phần L1 thực tế thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.

- Trong trường hợp Công ty Cổ phần L1, ông Vũ Thế D1, bà Đào Thị Thu T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng, Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành xác minh, kê biên, thu giữ, phát mãi tài sản thuộc quyền sở hữu/sử dụng của Công ty Cổ phần L1, ông Vũ Thế D1, bà Đào Thị Thu T để thu hồi khoản nợ vay.

Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Không có văn bản gửi Tòa án để trình bày ý kiến của mình cũng như không đến Tòa án để giải quyết vụ án.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên tòa: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn; về án phí Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật, hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho Nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được xác định đây là vụ án kinh doanh thương mại về tranh chấp hợp đồng tín dụng vì Ngân hàng TMCP V và Công ty Cổ phần L1 là tổ chức có đăng ký kinh doanh và có mục đích lợi nhuận phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có trụ sở tại phường T, quận L, thành phố Hà Nội, nên Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa lần hai bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2]. Về nội dung vụ án: Ngày 17/09/2020 Ngân hàng TMCP V - Chi nhánh N, P1 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) ký Hợp đồng cho vay hạn mức số: 150920-4468422-01-SME, Phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 12/5/2021, Phụ lục hợp đồng số 02/PLHĐ ngày 22/09/2021 và các khế ước nhận nợ kèm theo với Công ty Cổ phần L1 (Sau đây gọi tắt bên vay) vay vốn của Ngân hàng với tổng số tiền là 1.500.000.000 đồng.

Căn cứ vào bảng tính lãi thì tính đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 10/9/2024 bên vay còn nợ Ngân hàng tổng số tiền như sau: Nợ gốc: 887,284,503 đồng; Nợ lãi: 583,899,659 đồng; P chậm trả: 95,482,974 đồng; Tổng cộng: 1,566,667,136 đồng (Một tỷ, năm trăm sáu mươi sáu triệu, sáu trăm sáu mươi bảy nghìn, một trăm ba mươi sáu đồng) của 05 khế ước nhận nợ như Ngân hàng đã trình bày ở phần trên.

Việc tính lãi suất trong hợp đồng phù hợp quy định của pháp luật, căn cứ Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng và Điều 466 của Bộ luật dân sự 2015 thì Ngân hàng yêu cầu bên vay phải trả gốc và lãi suất là có căn cứ pháp luật.

Ngoài ra Ngân hàng còn yêu cầu về việc tiếp tục tính lãi suất phát sinh. Xét các bên đã có thỏa thuận này trong hợp đồng và phù hợp với pháp luật nên chấp nhận là có căn cứ.

Để đảm bảo cho khoản vay, Ngân hàng ký hai hợp đồng bảo lãnh với ông Vũ Thế D1 và bà Đào Thị Thu T bảo đảm cho khoản vay của bên vay với Ngân hàng. Xét thỏa thuận này phù hợp với quy định tại Điều 117, Điều 335 Bộ luật dân sự 2015, nên Ngân hàng yêu cầu người bảo lãnh phải thực nghĩa vụ bảo lãnh nếu bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ là có cơ sở.

Ngoài ra, Ngân hàng còn yêu cầu về thi hành án nếu bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ phù hợp với pháp luật và sự thỏa thuận của các bên nên có căn cứ để chấp nhận.

[3]. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật trên tổng số tiền phải trả cho Ngân hàng, hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 30, 35, 39, 227, 228, 244, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ các điều 117, 119, 335, 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP V.

  1. Buộc Công ty Cổ phần L1 trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 10/9/2024) là: 1,566,667,136 đồng; trong đó: Nợ gốc: 887,284,503 đồng; Nợ lãi: 583,899,659 đồng; Phạt chậm trả: 95,482,974 đồng.
  2. Kể từ ngày 11/9/2024 Công ty Cổ phần L1 phải chịu khoản tiền lãi quá hạn theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng, khế ước nhận nợ cho đến khi thanh toán xong nợ cho Ngân hàng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
  3. Trong trường hợp Công ty Cổ phần L1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng, thì ông Vũ Thế D1 và bà Đào Thị Thu T có nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty Cổ phần L1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm trả và các khoản phát sinh liên quan theo Hợp đồng cho vay và các khế ước nhận nợ nêu trên.
  4. Trong trường hợp Công ty Cổ phần L1, ông Vũ Thế D1, bà Đào Thị Thu T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành xác minh, kê biên, thu giữ, phát mãi tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Công ty Cổ phần L1, ông Vũ Thế D1, bà Đào Thị Thu T để thu hồi khoản nợ vay.
  5. Về án phí: Công ty Cổ phần L1 phải chịu 59.000.041 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền 20.510.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0018381 ngày 25/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn; người có lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND quận Long Biên;
  • - Chi cục THADS quận Long Biên;
  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hồng Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/KDTM-ST ngày 10/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 46/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger