|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 46/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 05/9/2024.
V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Tú
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Khắc Tuấn và bà Đào Thị Minh Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Thuận - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội không tham gia phiên toà.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 73/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 08 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1997;
- Bị đơn: Anh Phùng Anh T, sinh năm 1996;
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố D, M, phường T, S, Hà Nội; Chị H có mặt, anh T vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như tại phiên toà, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Chị và anh Phùng Anh T kết hôn năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện P, Hà Nội trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng gia đình chồng tại thôn M, phường T, S, Hà Nội. Quá trình chung sống đến khoảng đầu năm 2024 thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi cọ. Vợ chồng chị cũng đã sống ly thân từ tháng 02/2024 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Gia đình cũng đã tiến hành khuyên bảo, hòa giải nhưng không có kết quả. Hiện tại, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phùng Anh T.
Về con chung: Có 01 con chung là Phùng Khôi N, sinh ngày 25/10/2019. Hiện tại cháu N đang ở cùng với chị. Khi ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu N, chị yêu cầu anh T cấp dưỡng 2.500.000 đồng/1 tháng, kể từ tháng 9/2024 cho đến lúc cháu N 18 tuổi.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung, công sức đóng góp chung: Không có.
2. Tại bản tự khai bị đơn là anh Phùng Anh T trình bày:
Về thời gian và điều kiện kết hôn như chị H trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống cùng gia đình tại tổ dân phố D, M, phường T, S, Hà Nội. Đầu năm 2024 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không cùng quan điểm sống, thường xuyên cãi cọ, cuộc sống chung không có hạnh phúc và do không chung thuỷ trong hôn nhân. Hiện tại, vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Gia đình đã tiến hành hòa giải nhưng không có kết quả. Nay, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị Nguyễn Thị Thu H.
Về con chung: Có 01 con chung là Phùng Khôi N, sinh ngày 25/10/2019. Cháu N hiện tại đang ở cùng với chị H. Khi ly hôn anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc và yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000 đồng/1 tháng.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung, công sức đóng góp chung: Không có.
NHẬN DỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con của chị Nguyễn Thị Thu H đối với anh Phùng Anh T có địa chỉ tại TDP D, phường T, thị xã S, TP . thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội theo quy định tại các Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã mở phiên tòa vào ngày 28/8/2024 nhưng bị đơn anh T vắng mặt không có lý do. Tòa án hoãn phiên tòa, ấn định ngày xét xử là ngày 05/9/2024 và thực hiện giao quyết định xét xử và Giấy triệu tập phiên tòa cho anh T. Tại phiên tòa anh T tiếp tục vắng mặt không có lý do; căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Phùng Anh T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, thành phố Hà Nội ngày 26/07/2019 theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 37/2019 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Xét thấy anh T và chị H đều cùng thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và yêu cầu của hai bên là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên về quan hệ hôn nhân, xử cho chị Nguyễn Thị Thu H và anh Phùng Anh T được ly hôn.
[2.2]. Về con chung: anh chị có 01 con chung là Phùng Khôi N, sinh ngày 25/10/2019, hiện nay cháu N đang sinh sống cùng với chị H. Anh T và chị H đều đề nghị được trực tiếp nuôi con chung, anh T yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000 đồng/tháng còn chị H yêu cầu 2.500.000 đồng/tháng.
Xét thấy, chị H có công việc và thu nhập ổn định đảm bảo điều kiện về kinh tế để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Hơn nữa cháu N còn nhỏ và hiện tại đang sống cùng chị H, nếu giao cháu N cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng sẽ đảm bảo cuộc sống của cháu N không bị xáo trộn. Nên để bảo đảm cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N và theo quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, giao cháu N cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.
Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của chị H là 2.500.000đ/01 tháng. Xét thấy, yêu cầu này là phù hợp với nhu cầu thiết yếu của cháu N và mức lương tối thiểu vùng theo quy định tại Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/05/2024 của Hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao nên có cơ sở chấp nhận.
[2.3] Về tài sản chung: Chị H, anh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về nợ chung, công sức đóng góp chung: Không có.
[3] Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, anh T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 58, 81, 82, 83 và 116 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/05/2024 của Hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với anh Phùng Anh T.
- Về con chung: Giao cháu Phùng Khôi N, sinh ngày 25/10/2019 cho chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi hoặc khi có thay đổi khác; anh Phùng Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị H là 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng)/01 tháng kể từ tháng 9/2024 đến đến khi cháu N đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung, công sức đóng góp chung: Không có.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu số: 0000941 ngày 25/06/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, Hà Nội. Anh Phùng Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2, luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Tú |
Bản án số 46/2024/HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 46/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị H ly hôn anh T
