|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2024/HS-ST Ngày 22-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Tám.
- Bà Nguyễn Thị Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Ngọc Triều, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Đăng Kha – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Minh Đ, sinh ngày 07 tháng 11 năm 2003 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Minh V và bà Mai Thị D; vợ, con: không có; tiền án, tiền sự: không có; bị bắt, tạm giữ từ ngày 12/3/2024 đến ngày 21/3/2024 chuyển sang tạm giam đến nay; có mặt.
- Bị hại:
Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1981, nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
Chị Lưu Thị H, sinh năm 2003, nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
Bà Võ Thị Thu V1, sinh năm 1971, nơi cư trú: Khu phố F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Minh Đ sau khi thực hiện nghĩa vụ quân sự và xuất ngũ trở về địa phương không có nghề nghiệp nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để trả nợ và sử dụng tiêu dùng cá nhân. Khoảng 10 giờ ngày 11/3/2024, Đ điều khiển xe mô tô hiệu Honda loại Vision biển số 70B1-934.76 đến khu vực chợ T1 để mua nước thì quan sát thấy bà Nguyễn Thị T đang điều khiển xe Vespa mua đồ trong chợ và để ví trên đùi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Đ điều khiển xe đi phía sau bà T từ khu vực chợ T1 về hướng Kho bạc huyện T rẽ vào đường L. Khi đến khu vực quán cafe “Ngộ” tại khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, quan sát thấy đường vắng phương tiện đi lại nên Đ điều khiển xe áp sát bên trái xe mô tô do bà T điều khiển và dùng tay trái giật chiếc ví trên đùi của bà T sau đó tăng tốc chạy ra Đường C rồi di chuyển đến trường Trung học phổ thông T2 và rẽ phải vào đường P ra Quốc lộ B về nhà bà ngoại là Võ Thị V1, sinh năm 1965, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh thay quần áo tránh bị phát hiện. Trên đường về Đ kiểm tra ví có 600.000 đồng và 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe, 01 thẻ ngân hàng N đều đứng tên Nguyễn Thị T. Giấy tờ cá nhân của bà T, Đ bỏ lại trên đường về nhà.
Khoảng 12 giờ 20 phút cùng ngày, Đ điều khiển xe mô tô hiệu Honda loại Vision biển số 70B1-934.76 từ nhà bà Võ Thị V1 đến khu vực chợ T1 phát hiện chị Lưu Thị Hồng điều k xe mô tô Mio vào chợ, trên ngăn đựng đồ bên trái phía trước có 01 điện thoại di động và 01 chiếc ví nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Đ điều khiển xe đến phía trước Bưu điện huyện T đợi khoảng 15 phút thì phát hiện chị H đi ra Quốc lộ B hướng về xã T nên đi theo phía sau. Khi đến khu vực gần trường Trung học cơ sở T3 tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, thấy chị H đang nói chuyện điện thoại, Đ điều khiển xe áp sát bên trái xe của chị H và dùng tay trái giật ví trong ngăn đựng đồ bên trái sau đó tăng tốc chạy ra đường tỉnh lộ 783 và rẽ về Quốc lộ B về nhà bà Võ Thị V1. Trên đường về Đ kiểm tra ví có số tiền 1.200.000 đồng.
- Khoảng 14 giờ 40 phút, Đ điều khiển xe mô tô hiệu Honda loại Vision biển số 70B1-934.76 từ nhà bà Võ Thị V1 đến khu vực chợ T1 phát hiện bà Võ Thị Thu V1 điều khiển xe mô tô hiệu Honda loại SH Mod đang dừng xe mua đồ trước cửa hàng vàng “Tư N”, trên xe có 01 túi xách được để trên 03 gram giấy tại vị trí để chân của xe nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Đ điều khiển xe đến phía Bưu điện huyện T đợi khoảng 10 phút thì phát hiện bà Thu V1 đi ra Quốc lộ B hướng về xã T nên đi theo phía sau. Khi qua Ủy ban nhân dân xã T khoảng 200m khu vực ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, quan sát thấy đường vắng phương tiện qua lại nên Đ điều khiển xe áp sát bên phải xe mô tô do bà Thu V1 điều khiển và dùng tay trái giật túi xách trên xe sau đó tăng tốc chạy về nhà. Bà Thu V1 truy hô và đuổi theo Đ
nhưng không kịp nên đã đến Công an xã T trình báo sự việc. Đ về nhà kiểm tra túi xách phát hiện tiền Việt Nam 132.100.000 đồng, Đô la Mỹ 18 USD, tiền Campuchia 36.000 R, tiền C gô 50 Franc, trang sức vàng 24K là 18,658 chỉ, vàng 18K là 24,49 chỉ, 01 nhẫn kim cương, 01 đồng hồ, 01 túi xách và giấy tờ cá nhân tên Võ Thị Thu V1, Huỳnh Văn P.
Số tiền tiền chiếm đoạt được, Đ trả nợ cho Trần Quốc D1, sinh năm 1991, địa chỉ: Khu phố G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh số tiền 41.000.000 đồng, trả cho Nguyễn Bình D2, sinh năm 1996, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh số tiền 11.500.000 đồng, trả cho Nguyễn Văn S, sinh năm 2001, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh số tiền 6.000.000 đồng. Những tài sản còn lại, Đ cất giấu trong phòng ngủ tại nhà bà Võ Thị V1. Tại cơ quan điều tra, Phạm Minh Đ thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 19/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh kết luận:
- 01 (một) lắc tay vàng 24K dạng mắt xích khắc chữ “THIEN 980” trọng lượng 09 chỉ 09 phân 05 ly 8 giá trị 67.216.500 đồng.
- 01 (một) lắc tay vàng 24K dạng mắt xích khắc chữ “VUONG 980” trọng lượng 02 chỉ 09 phân 09 ly giá trị 20.182.500 đồng.
- 01 (một) dây chuyền vàng 18K dạng mắt xích khắc chữ “69K510” trọng lượng 11 chỉ 09 ly giá trị 47.132.500 đồng.
- 01 (một) dây chuyền vàng 18K dạng trơn dẹt khắc chữ “PNJ 680” trọng lượng 02 chỉ 06 phân 02 ly giá trị 11.135.000 đồng.
- 01 (một) kiềng tay vàng 18K đường kính 06 cm khắc số “610” trọng lượng 02 chỉ 09 phân 05 ly giá trị 12.537.500 đồng.
- 01 (một) nhẫn vàng 24K mặt bông hoa khắc chữ “98020SU” trọng lượng 02 chỉ giá trị 13.500.000 đồng.
- 01 (một) nhẫn vàng 24K mặt bông hoa khắc chữ “98020SU” trọng lượng 02 chỉ giá trị 13.500.000 đồng.
- 01 (một) nhẫn vàng 18K mặt đính đá khắc chữ “PNJ 680” trọng lượng 01 chỉ 08 phân 01 ly giá trị 7.692.500 đồng.
- 01 (một) nhẫn vàng 18K mặt đính đá khắc chữ “PNJ 680” trọng lượng 01 chỉ 08 phân 01 ly giá trị 7.692.500 đồng.
- 01 (một) nhẫn vàng ITALY mặt đính đá khắc chữ “G18K750” đính hột kim cương 04 ly giá trị 10.000.000 đồng.
- - 01 (một) mặt dây chuyền vàng 18K khắc chữ “KHAIXT610” trọng lượng 01 chỉ 09 phân 07 ly giá trị 8.372.500 đồng và 01 (một) tượng phật bằng đá màu xanh giá trị 100.000 đồng.
- 01 (một) mặt dây chuyền vàng 18K gắn đá khắc chữ “2PJ610224” trọng lượng 01 chỉ 08 phân 08 ly giá trị 7.990.000 đồng.
- 01 (một) mặt dây chuyền vàng 18K gắn đá khắc số “11” trọng lượng 03 phân 06 ly giá trị 1.530.000 đồng.
- 10 (mười) bông hoa 05 cánh vàng 24K trọng lượng 01 chỉ 03 phân 08 ly giá trị 9.315.000 đồng.
- 05 (năm) hạt vàng 24K có lỗ ở giữa trọng lượng 03 phân 03 ly giá trị 2.227.500 đồng.
- 06 (sáu) viên đá màu vàng hình tròn có lỗ ở giữa không phải là vàng bạc giá trị 120.000 đồng.
- 01 (một) đồng hồ dây bằng kim loại màu vàng mặt đính đá có chữ “AOLIX” không phải là vàng bạc giá trị 500.000 đồng.
- 01 (một) túi xách da màu nâu có 02 quai xách giá trị 200.000 đồng.
- 18 USD (mười tám Đô la Mỹ) giá trị 441.000 đồng.
- 36.000 Riel (ba mươi sáu nghìn Riel) giá trị 219.600 đồng.
- 50 Franc (năm mươi F) giá trị 205.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản là 241.809.600 (hai trăm bốn mươi mốt triệu tám trăm linh chín nghìn sáu trăm) đồng.
Cáo trạng số 42/CT-VKSTB ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên truy tố bị cáo Phạm Minh Đ về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Minh Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”;
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 171, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Minh Đ từ 07 (bảy) năm tù đến 08 (tám) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại bà Võ Thị Thu V1, bà Nguyễn Thị T, chị Lưu Thị H không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Bị cáo Đ thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên đã truy tố, không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo Đ nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo thể hiện: Từ khoảng 11 giờ 40 phút đến 14 giờ 40 phút ngày 11/3/2024, tại khu phố C, thị trấn T; ấp T, xã T và ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của người khác, Phạm Minh Đ có hành vi điểu khiển xe mô tô hiệu Honda loại Vision biển số 70B1-934.76 giật tài sản của bà Nguyễn Thị T, chị Lưu Thị H, bà Võ Thị Thu V1 sau đó nhanh chóng chạy thoát. Tổng giá trị tài sản Phạm Minh Đ chiếm đoạt là 375.709.600 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng số 42/CT-VKSTB ngày 04/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Phạm Minh Đ là có căn cứ.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân, gây ảnh hưởng xấu an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người thành niên, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình nhưng lười lao động, muốn có tiền sử dụng nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm.
[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố xét xử tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo đầy đủ, đúng sự thật những tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội đã thực hiện, bị cáo tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại và bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo có cụ ngoại Phan Văn L là liệt sĩ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng nhì. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 11/3/2024, bị cáo 03 lần thực hiện hành vi cướp giật tài sản của bị hại và những lần phạm tội này chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[6] Hình phạt áp dụng:
[7.1] Hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xét thấy các hình phạt khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm. Căn cứ Điều 38 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội, đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm.
[7.2] Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Trách nhiệm dân sự: Bà Võ Thị Thu V1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt; bà Nguyễn Thị T đã nhận số tiền bồi thường 1.000.000 đồng, chị Lưu Thị H đã nhận số tiền bồi thường 2.000.000 đồng. Các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[9] Biện pháp tư pháp: Căn cứ các điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; 02 áo khoác, 02 quần và 01 mũ bảo hiểm của bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và không có giá trị sử dụng, Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.
[10] Anh Trần Quốc D1, anh Nguyễn Bình D2, anh Nguyễn Văn S không biết số tiền bị cáo trả nợ nguồn gốc do phạm tội mà có; bà Võ Thị V1 không biết bị cáo sử dụng mô tô hiệu Honda loại Vision biển số 70B1-934.76 làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh không xử lý là có căn cứ.
[11] Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Phạm Minh Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Minh Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Biện pháp tư pháp: Căn cứ các điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo khoác màu xanh, lưng áo có chữ “Paradise” màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) quần vải màu xanh, lưng quần có chữ “CỤC QUÂN NHU - TCHC” đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác màu đen, phía trước có chữ “WHOSE”, đã qua sử dụng; 01 (một) quần short, lưng quần có chữ “GAP” đã qua sử dụng; 01 (một) nón bảo hiểm, màu xám, đã qua sử dụng.
- Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phạm Minh Đ phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 171, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Phạm Minh Đ 07 (bảy) năm tù, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 12/3/2024.
(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/6/2024)
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Hải |
Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH về cướp giật tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 46/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 171, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Minh Đ 07 (bảy) năm tù
