|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 46/2024/HNGĐ-ST Ngày 03/7/2024. V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền.
Các hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh;
- 2. Bà Ngô Thị Chiến.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng, Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 159/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1983. Địa chỉ: Tổ C, khu phố T, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc B, sinh năm 1983. Địa chỉ: Tổ C, khu phố T, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng, nguyên đơn - bà Nguyễn Thị L trình bày:
Năm 2008, bà L và ông B tự nguyện chung sống. Ngày 26/4/2010, bà L và ông B đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, ông B không tôn trọng vợ, cư xử không đúng mực, thường chửi bới vợ trước mặt con. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục cuộc sống chung nên bà L yêu cầu giải quyết như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Bà L yêu cầu được ly hôn với ông B.
Về con chung: Bà L và ông B có một con chung là Nguyễn Bảo T, sinh ngày 10/3/2009. Tại đơn khởi kiện ngày 03/4/2024, bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung cho đến khi đủ 18 tuổi, yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con 5.000.000đ/tháng (mỗi tháng năm triệu đồng). Tại đơn yêu cầu không hoà giải ngày 04/6/2024, bà L thay đổi không yêu cầu ông B phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà, bà L giữ nguyên yêu cầu như trên.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần triệu tập bị đơn ông Nguyễn Quốc B nhưng ông B vắng mặt. Ngày 03/7/2024, ông B nộp đơn trình bày ý kiến và yêu cầu giải quyết vắng mặt trước khi mở phiên toà và ra về, không tham gia phiên toà.
Tại đơn trình bày ý kiến và yêu cầu giải quyết vắng mặt, ông B đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị L. Về con chung: Ông B đồng ý giao con chung Nguyễn Bảo T cho bà L trực tiếp nuôi. Do bà L không yêu cầu nên ông không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Ông B không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát biểu ý kiến:
Về pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, vi phạm quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, Tòa án nhận định như sau:
- Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị L khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Nguyễn Quốc B nên Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là ly hôn, tranh chấp về nuôi con; bị đơn cư trú tại thị xã P nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ; tại phiên toà, ông Nguyễn Quốc B vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ vào các điều 28, 35, 39 và 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định pháp luật.
-
Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của bà Nguyễn Thị L và Giấy chứng nhận kết hôn số 21 do Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam cấp ngày 26/4/2010 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để xác định: Bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Quốc B tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa các bên là hợp pháp. Về tình trạng hôn nhân: Lời khai của bà Nguyễn Thị L phù hợp với kết quả xác minh tại Hội Liên hiệp phụ nữ phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng. Xét thấy, từ khi thụ lý vụ án, Tòa án nhiều lần triệu tập ông B để làm việc, hòa giải nhưng ông B đều vắng mặt và cũng không có biện pháp gì để vợ chồng đoàn tụ, bỏ mặc quan hệ vợ chồng. Tại phiên tòa, ông B vắng mặt và gửi ý kiến trình bày đồng ý ly hôn với bà L. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng bà L, ông B là có thật và đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông B.
- Về nuôi con chung và cấp dưỡng: Căn cứ bản sao các giấy khai sinh của con chung Nguyễn Bảo T, có cơ sở để xác định: Bà L và ông B có một con chung. Xét yêu cầu được trực tiếp nuôi con của bà L thì thấy: Cháu Nguyễn Bảo T, sinh ngày 10/3/2009 là con gái nên cần có sự gần gũi, chăm sóc của người mẹ; hơn nữa ông B đồng ý giao con cho bà L trực tiếp nuôi và cháu Bảo T cũng có nguyện vọng được sống với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Về điều kiện nuôi con: Bà Lý hiện có việc làm, có thu nhập để nuôi dưỡng, chăm sóc con. Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển về tinh thần cũng như quyền lợi mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Nguyễn Bảo T cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi cho đến khi đủ 18 tuổi. Bà Nguyễn Thị L không yêu cầu nên ông Nguyễn Quốc B không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại các điều 58, 81, 82, 83, 84 và 116 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 227 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án,
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” của bà Nguyễn Thị L đối với ông Nguyễn Quốc B.
B. Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Quốc B.
Về nuôi con chung và cấp dưỡng:
Giao con chung Nguyễn Bảo T, sinh ngày 10/3/2009 cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi đến khi đủ 18 tuổi; ông Nguyễn Quốc B không cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung:
Không xem xét.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị L chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 3204 ngày 09 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Bà Nguyễn Thị L đã nộp xong án phí.
- Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 03/7/2024), nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Bùi Thị Huyền |
Bản án số 46/2024/HNGĐ-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 46/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị L khởi kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông Nguyễn Quốc B
