|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2024/HS-ST Ngày: 27 tháng 5 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁNNHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Chuyền
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Tâm và ông Hoàng Văn Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Ngọc- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa- Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 27/5/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HS ngày 03/5/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 91/2024/HSST-QĐ ngày 14/5/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Hứa Văn H, sinh năm 1969
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
Nơi ĐKNKTT: thôn Trại Dạ, xã Hoà Sơn, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn;
Nơi ở: thôn Tam Tầng, xã Quang Châu, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá: 2/12;
Họ tên bố: Hứa Văn T (đã chết);
Họ tên mẹ: Lý Thị P (đã chết);
Vợ: Vương Thị P1, sinh năm 1970;
Con: Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 1994;
Gia đình có 08 anh em, bị cáo là con thứ nhất;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 27/4/2001, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc về hành vi cố ý gây thương tích.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/11/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
2. Họ và tên: Đào Thị T1, sinh năm 1959
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ;
Nơi ĐKNKTT và nơi ở: Tổ dân phố C, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá: 5/10;
Họ tên bố: Đào Văn T2 (đã chết);
Họ tên mẹ: Lê Thị H1 (đã chết);
Chồng: Hoàng Tùng M, sinh năm 1959;
Con: Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 1982, con nhỏ sinh năm 1988;
Gia đình có 08 chị em, bị cáo là con thứ nhất;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Bản án số 72 ngày 28/12/2006 của Toà án nhân dân huyện Phổ Yên xử phạt 30 tháng tù về tội “Chứa mại dâm”, chấp hành xong bản án ngày 22/12/2008;
Bị cáo đầu thú, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt.
3. Họ và tên: Hứa Văn C, sinh năm 1987
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
Nơi ĐKNKTT: thôn Trại Dạ, xã Hoà Sơn, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn;
Nơi ở: thôn Núi Hiểu, xã Quang Châu, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá: 5/12;
Họ tên bố: Hứa Văn Ó (đã chết);
Họ tên mẹ: Nông Thị C1, sinh năm 1963;
Vợ: Nguyễn Thị C2, sinh năm 1986;
Con: Bị cáo có 01 con sinh năm 2005;
Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/11/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Hứa Văn H: Ông Nguyễn Văn N – Luật sư, Văn phòng L, đoàn luật sư tỉnh Bắc Giang. Ông Hoàng Trọng N1 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B. (Ông N1 có mặt, ông N vắng mặt)
* Người bào chữa cho bị cáo Hứa Văn C: Bà Nguyễn Thị Như Q - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B. Vắng mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Đào Thị T1: Ông Dương Ngọc T3 – Luật sư, Văn phòng L1, đoàn luật sư tỉnh Bắc Giang. Có mặt.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Lăng Đình K, sinh năm 1995; Địa chỉ: TDP N, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
2. Anh Vi Văn T4, sinh năm 1988; Địa chỉ: TDP N, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
3. Anh Hứa Văn K1, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
*Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Xuân H2, sinh năm 1996; Địa chỉ: TDP T, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
+ Anh Đỗ Ngọc T5, sinh năm 1979. Địa chỉ: Thôn Q, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
+ Anh Tống Văn B, sinh năm 1993. Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 50 phút ngày 18/11/2023, tại đoạn đường cạnh nghĩa trang thôn T, xã Q, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh B phát hiện 02 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn, tiến hành kiểm tra thì một người để lại xe máy bỏ chạy, người còn lại là Hứa Văn C, sinh năm 1987, trú tại thôn N, xã Q. Thu giữ trong hốc xe bên phải phía trước xe mô tô của C 01 vỏ bao thuốc lá màu xanh, bên trong có 04 gói giấy bạc và 01 túi nilon màu trắng đựng 03 gói giấy bạc, trong các gói giấy bạc đều đựng chất cục bột màu trắng, niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT”. Cơ quan điều tra đã mời người chứng kiến, đưa C về trụ sở Công an xã Q và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, còn thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo biển kiểm soát 98B2-000.03, 01 xe máy Vespa biển kiểm soát 29T1-125.86, 01 điện thoại di động Oppo, 01 điện thoại di động Nokia và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra khám xét nơi ở của C, kết quả thu giữ tại nền phòng trọ 01 mảnh giấy bạc trên mặt chứa chất cục bột màu trắng, niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX” và một số đồ vật khác. C khai chất cục bột màu trắng đã thu giữ là ma tuý Heroine mua của Hứa Văn H, sinh năm 1969, trú tại thôn T, xã Q.
Tiến hành khám xét nơi ở của H, kết quả thu giữ: T6 trên cửa sổ phòng ngủ 01 hộp nhựa màu trắng bên trong đựng 27 gói giấy bạc, 01 hộp màu đen bên trong đựng 44 gói giấy bạc, 01 hộp cát tông bên trong đựng 129 gói giấy bạc, 01 hộp nhựa màu xanh bên trong đựng 73 gói giấy bạc, 01 túi nilon màu trắng; trong các gói giấy bạc và túi nilon đều chứa chất cục bột màu trắng, tất cả được niêm phong trong hộp bìa cát tông ký hiệu “KX H”. Ngoài ra, còn thu giữ số tiền 42.000.000 đồng, 01 điện thoại Nokia, 01 điện thoại Samsung, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ và một số đồ vật khác.
H khai mua ma tuý của một người phụ nữ tên H3 ở thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Tiến hành xác minh, xác định H3 tên thật là Đào Thị T1, sinh năm 1959, trú tại tổ dân phố C, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Ngày 22/11/2023, Cơ quan điều tra khám xét nơi ở của T1, kết quả thu giữ: 01 điện thoại di động Nokia, 01 điện thoại di động Iphone, 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter biển kiểm soát 99Z1-0216 và một số đồ vật khác.
Tại Kết luận giám định số 2292 ngày 23/11/2023 của Phòng K2 công an tỉnh B kết luận:
- Trong 01 phong bì ký hiệu “QT” được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 07 gói giấy bạc đều là ma tuý, loại Heroine, tổng khối lượng 0,721 gam.
- Trong 01 phong bì ký hiệu “KX” được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc là ma tuý, loại Heroine, khối lượng 0,045 gam.
Tại Kết luận giám định số 2293 ngày 23/11/2023 của Phòng K2 công an tỉnh B kết luận:
Trong 01 hộp bìa cát tông ký hiệu “KX H” được niêm phong gửi giám định: Trong 01 hộp nhựa màu trắng: Chất cục bột màu trắng đựng trong 27 gói giấy bạc đều là ma tuý, loại Heroine, tổng khối lượng 9,530 gam. Trong 01 hộp nhựa màu đen: Chất cục bột màu trắng đựng trong 44 gói giấy bạc đều là ma tuý, loại Heroine, tổng khối lượng 15,298 gam. Trong 01 hộp cát tông: Chất cục bột màu trắng đựng trong 129 gói giấy bạc đều là ma tuý, loại Heroine, tổng khối lượng 16,917 gam. Trong 01 hộp nhựa màu xanh: Chất cục bột màu trắng đựng trong 73 gói giấy bạc đều là ma tuý, loại Heroine, tổng khối lượng 25,688 gam. Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 túi nilon là ma tuý, loại Heroine, khối lượng 1,580 gam.
Quá trình điều tra, Hứa Văn C, Hứa Văn H và Đào Thị T1 khai nhận về diễn biến hành vi như sau:
H và T1 có quan hệ quen biết từ trước. Qua nói chuyện, H biết T1 có chỗ mua ma tuý nên đã xin số điện thoại của T1 để khi nào có nhu cầu mua ma tuý sẽ liên hệ. Khoảng 09 giờ ngày 17/11/2023, H gọi điện thoại cho T1 hỏi mua 44 triệu đồng ma tuý H4, T1 đồng ý và hẹn gặp H ở khu vực ngã 3 tổ dân phố C, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên để giao dịch mua bán. Sau đó, H thuê taxi đến địa điểm đã hẹn, còn T1 đi xe mô tô đến tổ dân phố K, phường T tìm mua ma tuý. T1 gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch) và mua của người này 40 triệu đồng ma tuý Heroine. T1 mang ma tuý về nhà rồi cho vào một chiếc găng tay màu xanh, sau đó đi ra điểm hẹn gặp H. H đưa cho T1 44 triệu đồng, T1 đưa lại cho H chiếc găng tay đựng ma tuý. H mang ma tuý về phòng trọ chia nhỏ ra các gói giấy bạc mục đích để sử dụng và bán. H chia được khoảng 300 gói và để toàn bộ số ma tuý trên cửa sổ phòng ngủ. Khoảng 16 giờ ngày 18/11/2023, C đến phòng trọ của H mua 07 gói ma tuý Heroine với giá 500.000 đồng. C mang ma tuý về phòng trọ rồi lấy 01 gói ma tuý ra chia làm 2 phần, một phần C bỏ ra ngoài để sử dụng, phần còn lại C vẫn để trong gói giấy bạc và để toàn bộ số ma tuý này vào trong bao thuốc lá. Sau đó, Lăng Đình K, sinh năm 1995 ở cùng thôn gọi điện rủ C đi chơi và hẹn gặp nhau ở khu vực nghĩa trang thôn T, xã Q, huyện V (nay là thị xã V). C để bao thuốc lá chứa ma tuý vào trong hốc xe mô tô của mình rồi đi đến điểm hẹn gặp K. Khi C và K đang nói chuyện thì bị lực lượng Công an kiểm tra, do K là người nghiện ma tuý nên đã để lại xe máy bỏ chạy.
Ngoài ra, H và C còn khai nhận trước đó đã mua ma tuý của T1 khoảng 4-5 lần nhưng không nhớ khối lượng ma tuý và số tiền mua. T1 không thừa nhận đã bán ma túy nhiều lần cho H. Cơ quan điều tra đã cho H và T1 đối chất để làm rõ nhưng các bên vẫn giữ nguyên lời khai.
Hứa Văn H khai đã nhiều lần bán ma tuý cho các đối tượng không rõ lai lịch, lần gần nhất H bán ma tuý cho Vi Văn T4, sinh năm 1988, trú tại thôn N, xã Q, huyện V (nay là thị xã V). Ngày 18/11/2023, H không bán ma tuý cho C. Cơ quan điều tra đã cho H và C đối chất để làm rõ nhưng các bên vẫn giữ nguyên lời khai.
Với nội dung trên bản cáo trạng số 09/CT-VKS-P1 ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Hứa Văn Cường về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Truy tố các bị cáo Đào Thị T1 và Hứa Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251– Bộ luật Hình sự .
- Tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố. Cáo trạng truy tố các bị cáo như vậy là đúng người đúng tội, không oan sai. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Lăng Đình K có lời khai thể hiện trong hồ sơ vụ án, anh K khai: Ngày 18/11/2023, anh K có gặp Hứa Văn C, C rủ K sang phòng C để dọn chuyển đồ đạc sang phòng trọ mới nhưng vừa mới gặp nhau thì lực lượng Công an đến kiểm tra, do Khôi nghiệm ma túy nên khi nhìn thấy Công an thì sợ, bỏ lại xe máy và chạy về nhà trọ. Anh K không biết và không liên quan gì đến hành vi liên quan đến ma túy của Hứa Văn C.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Vi Văn T4 có lời khai thể hiện trong hồ sơ vụ án, anh T4 khai: Khoảng 19 giờ ngày 19/11/2023, T4 có đến nhà Hứa Văn H hỏi mua ma túy. H bán cho T4 01 gói ma túy heroin với giá 200.000 đồng. H có mời T4 vào nhà uống bia. Khi T4 và H đang uống nước thì cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đến kiểm tra và khám xét nhà H. Anh T4 mua ma túy của H mục đích để sử dụng vì là đối tượng nghiện ma túy. Ngoài lần anh T4 mua ma túy của H ngày 19/11/2023 thì ngày 17/11/2023 anh T4 cũng đến nhà H mua ma túy qua ô cổng được 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Trong nhà của H, anh T4 chỉ mua ma túy của H.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Hứa Văn K1 trình bày: Anh K1 là con đẻ của Hứa Văn H. Khoảng tháng 11/2023, anh K1 có thuê cho Hứa Văn H 01 căn nhà cấp 4 ở thôn T, xã Q, thị xã V để H ở và mở cửa hàng sửa xe. Còn anh K1 thuê trọ tại thôn N, xã Q, V nên anh K1 không biết gì hay có liên quan gì đến hành vi phạm tội của H. Chiếc xe mô tô Wave màu đỏ, biển kiểm soát 12H1- 509.38 là xe bị cáo H mua hộ anh, tiền mua xe là tiền anh K1 đưa cho bị cáo H nhờ bị cáo H mua hộ với số tiền 21.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo H yêu cầu được trả lại chiếc xe thì anh không có ý kiến gì.
Qua xét hỏi tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu lời luận tội, giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Về tội danh:
- Áp dụng điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đào Thị T1 15 năm 6 tháng- 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 23/11/2023, phạt bổ sung 10 triệu đồng.
- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hứa Văn H 15 năm 6 tháng- 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 20/11/2023.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hứa Văn C 01 năm 6 tháng- 2 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 18/11/2023.
* Về xử lý vật chứng, tài sản: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106- Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong ký hiệu “QT”, bên trong đựng 0,659 gam ma tuý Heroin hoàn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “KX”, bên trong đựng 0,035 gam ma tuý Heroin hoàn lại sau giám định; 01 hộp bìa cát tông ký hiệu “KX H”, bên trong đựng 64,42 gam ma tuý Heroin hoàn lại sau giám định; 01 dao lam màu trắng; 01 lưỡi dao bằng kim loại màu trắng; 01 cân điện tử màu trắng; 01 ví da màu nâu đen; 01 chai nhựa; 01 túi nilon đựng các đoạn ống nhựa nhiều màu sắc; 01 cân điện tử màu trắng bạc, 01 hộp giấy bên trong đựng nhiều mảnh giấy bạc và 01 bản phô tô giấy chứng minh nhân dân tên Hứa Văn H.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo màu xanh, trắng, biển kiểm soát 98B2-000.03; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 98B2-000.03; 01 giấy bán xe kiêm bảo hành xe mô tô biển kiểm soát 98B2-000.03; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ không biển kiểm soát, số khung RLHJA3931PY093879, số máy JA70E-0129698; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Hứa Văn H; 01 biển kiểm soát xe mô tô 12H1-509.38; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter biển kiểm soát 99Z1-0216 màu đen, biển kiểm soát 99Z1-0216; 01 đăng ký mô tô mang tên Nguyễn Xuân B1; 01 điện thoại di động Nokia màu cam đã qua sử dụng; 01 điện thoại Samsung màu đen đã qua sử dụng và 22.400.000 đồng.
- Trả lại bị cáo C: 01 điện thoại di động Oppo màu đen, 01 điện thoại di động Nokia màu đen. 01 căn cước công dân và 01 chứng minh nhân dân tên Hứa Văn C.
- Trả lại bị cáo H: 01 điện thoại Nokia màu xanh đen và 19.600.000 đồng.
- Trả lại bị cáo T1: 01 điện thoại di động Iphone màu vàng và 01 căn cước công dân tên Đào Thị T1 nhưng tạm giữ điện thoại để đảm bảo thi hành án.
Buộc bị cáo T1 nộp lại 4 triệu đồng để sung ngân sách nhà nước.
3. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo H và C là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí HSST. Bị cáo T1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
* Người bào chữa cho bị cáo Hứa Văn H trình bày: Ông N1 và ông N đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng t, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
* Người bào chữa cho bị cáo Hứa Văn C trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 249 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội tuyên phạt bị cáo Hứa Văn C 01 năm tù giam, miễn án phí hình sự sơ thẩm, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
* Người bào chữa cho bị cáo Đào Thị T1 trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
* Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đề nghị.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: Kể từ khi khởi tố vụ án hình sự, trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án, HĐXX thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên và các Luật sư bào chữa cho các bị cáo đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên và các Luật sư bào chữa cho các bị cáo thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, không có hành vi, quyết định tố tụng nào vi phạm tố tụng.
[2]. Về sự vắng mặt của một số người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Lăng Đình K và anh Vi Văn T4 và những người làm chứng đã dược triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt không có lý do. Xét lời khai của người làm chứng đã có trong hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt đối với người làm chứng.
[3]. Xét hành vi của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản khám xét thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để xác định: Hồi 16 giờ 50 phút ngày 18/11/2023, tại đoạn đường cạnh nghĩa trang thuộc thôn T, xã Q, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang, Tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh B bắt quả tang Hứa Văn C, sinh năm 1987, trú tại thôn N, xã Q, huyện V có hành vi cất giấu trái phép 0,766 gam ma tuý Heroine, mục đích để sử dụng. C khai mua ma tuý của Hứa Văn H, sinh năm 1969, trú tại thôn T, xã Q, huyện V. Tiến hành khám xét nơi ở của H, thu giữ 69,013 gam ma tuý Heroine do H mua của Đào Thị T1, sinh năm 1959, trú tại tổ dân phố C, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 17/11/2023, mục đích để sử dụng và bán cho người khác để kiếm lời. T1 cũng thừa nhận bán ma túy heroin cho H vào ngày 17/11/2023 thu lời 4.000.000 đồng.
H khai đã nhiều lần bán ma tuý cho các đối tượng không rõ lai lịch, lần gần nhất H bán ma tuý cho Vi Văn T4, sinh năm 1988, trú tại thôn N, xã Q, huyện V (nay là thị xã V). Ngày 18/11/2023, H không bán ma tuý cho C. Cơ quan điều tra đã cho H và C đối chất để làm rõ nhưng các bên vẫn giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của C, không có chứng cứ gì khác chứng minh nên không đủ cơ sở kết luận H bán ma tuý cho C.
Hành vi của bị cáo Hứa Văn H và Đào Thị T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Hứa Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4]. Xét tính chất của vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì lợi ích cá nhân mà các bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy và gây mất trật tự an ninh xã hội. Ma túy là mối hiểm họa, làm xói mòn đạo đức, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác và gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do vậy, việc xét xử nghiêm các bị cáo là cần thiết và phải có hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
[5]. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
- Xét về nhân thân của các bị cáo thì thấy: Bị cáo H và T1 là người có nhân thân xấu, bị cáo C là người có nhân thân tốt.
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Hứa Văn H khai nhận nhiều lần bán ma túy cho người khác nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
H và C khai H mua ma túy của T1 vào ngày 17/11/2023, ngoài ra H và C khai đã nhiều lần H mua ma túy của T1, tuy nhiên C khai C không trực tiếp chứng kiến việc mua bán ma túy giữa H và T1 mà C ngồi trong xe taxi đợi H. Ngoài lời khai của H và C thì không có chứng cứ gì chứng minh ngoài lần H mua ma túy của T1 ngày 17/11/2023 thì H còn mua ma túy của T1 nhiều lần khác. Do đó T1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội hai lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T1 là không phù hợp.
Bị cáo Hứa Văn C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo T1 đầu thú, gia đình bị cáo T1 tự nguyện hiến đất cho địa phương để làm đường nông thôn mới nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ông Hoàng Trọng N1 bào chữa cho bị cáo H đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự trong việc phát hiện xử lý bị cáo T1 thì thấy không có căn cứ để xác định bị cáo H tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án. Do vậy bị cáo H không được hưởng tình tình giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị này của người bào chữa cho bị cáo H.
[6]. Về hình phạt chính: Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội các bị cáo đã thực hiện, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích, có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Do các bị cáo đang bị tạm giam nên cần áp dụng Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam mỗi bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo T1 là người cao tuổi, các bị cáo H và C là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, bị cáo H thuộc hộ cận nghèo nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[8]. Về xử lý vật chứng:
+ Số ma túy bị thu giữ là vật nhà nước cấm lưu hành, 01 dao lam, 01 lưỡi dao bằng kim loại, 01 cân điện tử, 01 ví da, 01 cân điện tử, chai nhựa, các túi nilon và các mảnh giấy bạc không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo biển kiểm soát 98B2-000.03 là của C, 01 điện thoại Samsung của H và 01 điện thoại di động N2 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter biển kiểm soát 99Z1-0216 là của T1 dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự. Điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
+ 01 điện thoại di động Oppo và 01 điện thoại di động Nokia là của C, 01 điện thoại Nokia của H, 01 điện thoại di động Iphone của T1 không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
+ Số tiền 42.000.000 đồng là của H, trong đó có 22.400.000 đồng là tiền H bán ma tuý có được nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự. Điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ không biển kiểm soát là của H và số tiền 19.600.000 đồng (Cất giữ trong con lợn sứ) không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo H.
+ Trả bị cáo C 01 căn cước công dân và 01 chứng minh nhân dân đều mang tên Hứa Văn C. Trả bị cáo T1 01 căn cước công dân mang tên Đào Thị T1.
+ T1 khai bán ma tuý cho H được lợi số tiền 4.000.000 đồng, đây là khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội nên cần truy thu nộp ngân sách nhà nước.
[9]. Các vấn đề khác: Đối với Lăng Đình K không biết việc C cất giấu ma tuý nên Cơ quan điều tra không xử lý với vai trò đồng phạm là có căn cứ. Đối với người đàn ông bán ma tuý cho T1, do T1 không biết lai lịch cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
[10]. Về án phí: Bị cáo H và C là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn, bị cáo H thuộc hộ cận nghèo, bị cáo T1 là người cao tuổi nên được miễn án phí HSST theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[13]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333- Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh, điều luật và hình phạt:
- Căn cứ điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đào Thị T1 15 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 23/11/2023. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hứa Văn H 16 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 20/11/2023. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hứa Văn C 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 18/11/2023. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự. khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong ký hiệu “QT”, bên trong đựng 0,659 gam ma tuý Heroin hoàn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “KX”, bên trong đựng 0,035 gam ma tuý Heroin hoàn lại sau giám định; 01 hộp bìa cát tông ký hiệu “KX H”, bên trong đựng 64,42 gam ma tuý Heroin hoàn lại sau giám định; 01 dao lam màu trắng; 01 lưỡi dao bằng kim loại màu trắng; 01 cân điện tử màu trắng; 01 ví da màu nâu đen; 01 chai nhựa; 01 túi nilon đựng các đoạn ống nhựa nhiều màu sắc; 01 cân điện tử màu trắng bạc, 01 hộp giấy bên trong đựng nhiều mảnh giấy bạc và 01 bản phô tô giấy chứng minh nhân dân tên Hứa Văn H.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo màu xanh, trắng, biển kiểm soát 98B2-000.03, số khung RLCN1DB10EY227231, số máy 1DB1227244, sản xuất năm 2013, dung tích xi lanh 125 cm³; 01 giấy bán xe kiêm bảo hành xe mô tô biển kiểm soát 98B2-000.03; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 98B2-000.03
+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter biển kiểm soát 99Z1-0216 màu đen, biển kiểm soát 99Z1-0216; số khung RLCJ5B9408Y019322, số máy 5B94-019322, sản xuất năm 2008, dung tích xi lanh 110 cm³; 01 đăng ký mô tô, xe máy số 000218 mang tên Nguyễn Xuân B1; 01 điện thoại di động Nokia màu cam đã qua sử dụng, số Seri 1: 357349080043920; 01 điện thoại Samsung màu đen đã qua sử dụng, IMEI1: 350532454820646 và số tiền 22.400.000 đồng.
- Trả lại bị cáo C: 01 điện thoại di động Oppo màu đen đã qua sử dụng, số IMEI1: 860768061003803; 01 điện thoại di động Nokia màu đen đã qua sử dụng, số IMEI1: 357332565220601; 01 căn cước công dân và 01 chứng minh nhân dân tên Hứa Văn C.
- Trả lại bị cáo H: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ không biển kiểm soát, số khung RLHJA3931PY093879, số máy JA70E-0129698; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Hứa Văn H; 01 biển kiểm soát xe mô tô 12H1-509.38; 01 điện thoại Nokia màu xanh đen đã qua sử dụng, số seri 1 355774101441120 và số tiền 19.600.000 đồng.
- Trả lại bị cáo T1: 01 điện thoại di động Iphone màu vàng, số IMEI: 358248067353864 và 01 căn cước công dân tên Đào Thị T1.
Buộc bị cáo T1 nộp lại 44.000.000 đồng để sung ngân sách nhà nước.
(Vật chứng của vụ án được chuyển giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang theo quyết định chuyển vật chứng số 09/QĐ-VKS-P1 ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang; Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an tỉnh B với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang)
3. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 12, Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Miễn án phí HSST cho các bị cáo Hứa Văn C, Hứa Văn H và Đào Thị T1.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Chuyền |
Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 46/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
