Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HS-ST

Ngày: 19/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thúy Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Ngô Thị Thơm.
  • Bà Phạm Thị Thà.

- Thư ký phiên toà tại điểm cầu Trung tâm: Ông Bùi Hải Long - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Thư ký phiên tòa tại điểm cầu thành phần: Ông Hoàng Hữu T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa tại điểm cầu Trung tâm: Ông Nguyễn Như Sáng - Kiểm sát viên

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa tại điểm cầu Thành phần: Ông Lê Quang V – Cán bộ Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương.

Cán bộ, chiến sĩ trại tạm giam Công an tỉnh H tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần: Ông Lê Tiến D.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại các điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương và điểm cầu thành phần – Trại tam giam Công an tỉnh H, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/HSST-QĐ ngày 21/6/2024 đối với bị cáo:

Đặng Thị L, sinh ngày: 10/4/1949 tại Hải Dương; nơi đăng ký thường trú: Thôn L, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 3/10; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Đặng Văn C (đã chết), con bà Phạm Thị D1 (đã chết); Bị cáo không có chồng và có 02 con, lớn nhất sinh năm 1973, nhỏ nhất sinh năm 1975 (đã chết năm 2021);

Tiền án: Bản án hình sự phúc thẩm số 2080 ngày 21/10/1999 của Toà phúc thẩm - Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt Đặng Thị L 05 năm tù về tội “Lưu hành tiền giả” quy định tại khoản 1 Điều 98 Bộ luật Hình sự năm 1985; tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt 06 năm tù về tội “Lưu hành tiền giả”. Tổng hợp hình phạt 05 năm tù tại Bản án hình sự phúc thẩm số 2080 ngày 21/10/1999 của Toà phúc thẩm - Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã xử Đặng Thị L về tội “Lưu hành tiền giả”; buộc Đặng Thị L phải chấp hành hình phạt chung cả hai bản án là 11 năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/7/2023. Phạt quản chế Đặng Thị L tại địa phương (xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương) 02 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù. Truy thu số tiền 3.000.000 đồng nộp sung vào công quỹ Nhà nước.

Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam N1, Cục C1 - Bộ C2 (được trích xuất để phục vụ công tác xét xử, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H)

Người làm chứng:

  1. Anh Vũ Văn H, sinh năm 1981;
  2. Anh Đặng Hải L1, sinh năm 1973;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Văn H và Đặng Hải L1 cùng sinh sống tại xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương, có quen biết nhau từ năm 2004. Trong thời gian quen L1, H biết mẹ đẻ của L1 là Đặng Thị L đang sinh sống ở Trung Quốc chuyên buôn tiền Việt Nam giả. Tháng 4/2006, H gặp L1 để xin số điện thoại của L để liên hệ mua tiền giả của L. H không nói và L1 cũng không hỏi mục đích H xin số điện thoại của L để làm gì.

Ngày 16/4/2006, H sử dụng số điện thoại 0904.487.xxx liên lạc với L nhiều lần qua số điện thoại Trung Quốc (số điện thoại 9.12457E+11) để thỏa thuận mua 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) tiền Việt Nam giả của L với giá 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) tiền thật và hẹn gặp mặt, giao nhận tiền Việt Nam giả tại nhà L (cũng là nơi L1 sinh sống) ở thôn L, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương. Tại Trung Quốc, Đặng Thị L đã mua 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) tiền Việt Nam giả, loại tiền polymer, mệnh giá 100.000 đồng/tờ của một người phụ nữ Việt Nam tên là Đ, có chồng là người Trung Quốc (L không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của bà Đ). Do thời gian đã lâu, L không nhớ đã mua số tiền giả trên của bà Đ với giá bao nhiêu tiền. Sau khi mua được số tiền giả trên, L cất giấu trong hành lý cá nhân và nhờ người dẫn đường về Việt Nam. Ngày 20/4/2006, Đặng Thị L sử dụng số điện thoại 0907.040.xxx gọi điện và hẹn gặp H 22h00 ngày 22/4/2006 đến nhà L. Hồi 18h32 phút ngày 22 tháng 4 năm 2006, H sử dụng số điện thoại 0904.487.xxx gọi vào số điện thoại 0907.040.xxx của L và được L thông báo đã về đến nhà.

Trước khi H đến nhà, L dặn và yêu cầu L1 khi nào H đến thì ra mở cổng cho H vào nhà gặp L. Khoảng 22h00 ngày 22/4/2006, H đi xe máy hiệu Dream tới cổng nhà L1, H bấm còi xe máy, L1 ra cổng quan sát thấy đúng là H và không có ai khác, L1 mở cổng cho H vào nhà, sau đó khóa cổng lại.

H đi vào nhà thấy L đang ngồi ở bàn uống nước trong phòng khách nên ngồi cùng. Lát sau, L1 cũng ngồi cùng tại bàn uống nước với H và L. Tại đây, L đưa một bịch nilon cho H và nói đây là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) tiền Việt Nam giả, mệnh giá 100.000đ/01 tờ. H đưa lại cho L 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) tiền thật. Sau đó, L1 ra mở cổng cho H về và khoá cổng lại. L1 chứng kiến toàn bộ việc trao đổi, giao nhận tiền Việt Nam giả và tiền thật giữa H và L. Ngay trong đêm đó, H cầm theo số tiền giả trên đi đến thành phố H, tỉnh Hải Dương đón xe ô tô khách mang tiền giả vào thành phố Hồ Chí Minh tiêu thụ. H bán cho Vũ Thị T1, Phạm Xuân T2 mỗi người 10.000.000đồng tiền Việt Nam giả được 6.200.000đồng tiền Việt Nam thật. Còn 10.000.000đồng tiền Việt Nam giả, H đang tiếp tục đi tiêu thụ thì bị Cơ quan An ninh điều tra Bộ C2 phối hợp với Cục B kinh tế Bộ C2 và Công an phường B1, quận B, Tp.Hồ Chí Minh bắt quả tang vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 24/4/2006 tại khu vực Bến xe khách M thuộc phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vật chứng thu giữ là 10.000.000đồng (Mười triệu đồng) tiền Việt Nam giả (loại tiền polymer, mệnh giá 100.000 đồng/tờ). Vũ Văn H khai nhận, số tiền nêu trên là tiền Việt Nam giả chưa kịp tiêu thụ thì bị kiểm tra phát hiện.

Tại Bản kết luận giám định số 1547/C21B ngày 16/5/2006 của Phân Viện khoa học hình sự, T4, Bộ C2 đã kết luận: “100 tờ tiền: “Ngân hàng N2”, chất liệu P, mệnh giá loại 100.000 đồng.... gửi đến giám định (ký hiệu từ A1 đến A100) là tiền giả, được làm bằng phương pháp in offset trên chất liệu Polime, độ đàn hồi kém, là loại tiền giả lần đầu tiên Phân viện KHHS tiếp nhận và giám định. H1 lại toàn bộ tài liệu đã gửi đến giám định. Phân Viện KHHS giữ lại 02 tờ tiền cùng số Sêri: QA 04416375 (ký hiệu A99, A100) để phục vụ nghiên cứu giám định”.

Do Đặng Thị L bỏ trốn, nên Cơ quan an ninh điều tra Bộ C2 tạm đình chỉ điều tra đối với Đặng Thị L và Đặng Hải L1. Ngày 27/7/2023, Đặng Thị L ra đầu thú.

Quá trình phục hồi điều tra vụ án, H khai nhận ngày 22/4/2006 H chỉ mua của L 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) tiền Việt Nam giả và trả cho L 7.000.000 đồng (Bẩy triệu đồng) tiền Việt Nam thật. Tuy nhiên, L khai đã mua 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) tiền Việt Nam giả từ Trung Quốc đưa về Việt Nam, trực tiếp liên hệ, thỏa thuận thống nhất bán 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) tiền Việt Nam giả này cho H và được H thanh toán 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) tiền Việt Nam thật vào ngày 22/4/2006 tại nhà L ở thôn L, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương. Lời khai của L phù hợp với lời khai của L1, phù hợp với lời khai của H trước đây tại Cơ quan An ninh điều tra Bộ C2 và lời khai tại phiên Tòa sơ thẩm xét xử vụ án nêu tại Bản án sơ thẩm số 435/2008/HSST ngày 29/5/2008 của Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh. Do vậy, có đủ căn cứ kết luận H đã mua của L 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) tiền Việt Nam giả với giá 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) tiền Việt Nam thật vào ngày 22/4/2006.

Ngoài hành vi phạm tội như đã nêu trên, quá trình điều tra vụ án hình sự “Vũ Văn H và đồng bọn tàng trữ, lưu hành tiền giả, xảy ra tại Tp . Hồ Chí Minh và một số tỉnh khác” theo Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 62/ANĐT ngày 26/4/2006, Η khai nhận:

(1) Tháng 5/2004, Nguyễn Văn T3 từ Tp . Hồ Chí Minh ra Hải Dương gặp H và nhờ H đưa đến nhà L (ở thôn L, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương) để T3 mua 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) tiền Việt Nam giả. Tháng 6/2004, T3 tiếp tục ra Hải Dương gặp H và nhờ H đưa đến nhà L để mua 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) tiền Việt Nam giả. Tại bản Kết luận điều tra số 130/ANĐT ngày 21/8/2007 của Cơ quan An ninh điều tra Bộ C2 đã kết luận: Ngoài lời khai của H, hiện L đã bỏ trốn, Cơ quan điều tra không có tài liệu nào khác để chứng minh và kết luận Đặng Thị L, Nguyễn Văn T3, Vũ Văn H đã tàng trữ, lưu hành số tiền Việt Nam giả nêu trên. Do đó việc này khi nào bắt được Đặng Thị L sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

(2) Tháng 2/2005, Vũ Văn H được Nguyễn Văn H2 (H là anh họ của Nguyễn Văn H2) nhờ mua giúp 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) tiền Việt Nam giả. H đã đến nhà L mua 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) tiền Việt Nam giả với giá 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) tiền thật. Việc mua bán tiền Việt Nam giả giữa H và L có Đặng Hải L1 (là con L) chứng kiến. Sau đó, H mang số tiền Việt Nam giả đi ô tô khách vào Tp.Hồ Chí M giao cho Nguyễn Văn H2 (tại số H C, Phường D, quận T, Tp . Hồ Chí Minh). Sau khi tiêu thụ xong số tiền Việt Nam giả trên, ngày 21/3/2005 Nguyễn Văn H2 nhờ Nguyễn Văn T3 gửi trả cho Vũ Văn H qua ông Vũ Anh N (là bố Vũ Văn H) số tiền 53.500.000 đồng (Năm mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng). Số tiền dư 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng), Nguyễn Văn H2 trả công cho H trong việc mua giúp và mang tiền Việt Nam giả vào Tp . Hồ Chí Minh cho H2. Tại Bản án sơ thẩm số 435/2008/HSST ngày 29/5/2008 của Tòa án nhân dân Tp . Hồ Chí Minh và Bản án phúc thẩm số 1011/2008/HSPT ngày 12/9/2008 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Tp . Hồ Chí Minh đã kết luận: Trong quá trình điều tra, Vũ Văn H khẳng định việc mua bán này có Đặng Hải L1 chứng kiến. Tuy nhiên tại Tòa, H khai không mua giúp cho Nguyễn Văn H2 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) tiền Việt Nam giả của Đặng Thị L vào tháng 02/2005. Căn cứ kết quả xác minh, Đặng Thị L đã bỏ trốn sang Trung Quốc, Đặng Hải L1 không thừa nhận lời khai của Vũ Văn H, Nguyễn Văn H2 cũng không nhờ Vũ Văn H mua giúp 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) tiền Việt Nam giả nên chưa đủ cơ sở để làm rõ hành vi này. Tại Tòa, đại diện Viện Kiểm sát đã rút phần truy tố đối với hành vi này nên Hội đồng xét xử chấp nhận và không xem xét, khi nào bắt được Đặng Thị L sẽ xem xét xử lý sau.

Quá trình phục hồi điều tra vụ án đối với Đặng Thị L, Đặng Hải L1, trên cơ sở kết quả điều tra, Cơ quan An ninh điều tra Bộ C2 xác định:

(1) Đối với hành vi có dấu hiệu tàng trữ, lưu hành 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) tiền Việt Nam giả của Đặng Thị L, Nguyễn Văn T3 và Vũ Văn H vào tháng 5, 6/2004 tại Hải Dương: Đặng Thị L và các đối tượng có liên quan như Vũ Văn H, Nguyễn Văn T3 đều không thừa nhận việc thoả thuận, mua bán 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) tiền Việt Nam giả vào tháng 5, 6/2004. Ngoài lời khai của L và các đối tượng nêu trên, Cơ quan An ninh điều tra Bộ C2 không thu thập được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh, do đó không đủ căn cứ kết luận Vũ Văn H, Nguyễn Văn T3 thỏa thuận mua 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) tiền Việt Nam giả của Đặng Thị L vào tháng 5, 6/2004 tại Hải Dương.

(2) Đối với hành vi có dấu hiệu tàng trữ, lưu hành 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) tiền Việt Nam giả của Nguyễn Văn H2, Vũ Văn H, Đặng Thị L vào tháng 02/2005 tại Hải Dương: Đặng Thị L và các đối tượng Vũ Văn H, Nguyễn Văn H2 đều khai không thỏa thuận, mua bán 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) tiền Việt Nam giả, Đặng Hải L1 khai không chứng kiến việc mua bán 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) tiền Việt Nam giả. Ngoài lời khai của các đối tượng nêu trên, Cơ quan An ninh điều tra Bộ C2 không thu thập được tài liệu, chứng cứ khác để chứng minh, do đó không đủ căn cứ kết luận Vũ Văn H, Nguyễn Văn H2 mua 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) tiền Việt Nam giả của Đặng Thị L vào tháng 02/2005 tại Hải Dương.

Tại Cáo trạng số: 3267/CT - VKSTC - V1, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao truy tố bị cáo Đặng Thị L về tội Tàng trữ, lưu hành tiền giả theo quy định tại khoản 2 Điều 180 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi tàng trữ, lưu hành tiền Việt Nam giả bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố và các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Bị cáo không nhớ mua 30.000.000đồng tiền Việt Nam giả loại mệnh giá 100.000đồng Việt Nam giả của ai, mua thời gian nào, hết bao nhiêu tiền. Bị cáo mang về nhà ở xã G, huyện G bán cho H được 15.000.000đồng tiền Việt Nam thật. Số tiền này bị cáo đã chỉ cho cá nhân hết. Bị cáo không bán tiền giả cho H2 và T3 như H khai. Bị cáo bị truy tố, xét xử về tội Tàng trữ, lưu hành tiền giả là đúng. Bị cáo không bị oan.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 2 Điều 180 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm o, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 54, Điều 55, khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 7 BLHS năm 2015, điểm đ khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội. Xử phạt bị cáo Đặng Thị L từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ, lưu hành tiền giả”; tổng hợp 11 năm tù tại Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương về tội “Lưu hành tiền giả” (có tuyên hình phạt bổ sung là phạt quản chế bị cáo tại địa phương 02 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt tù). Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án từ 15 năm tù đến 15 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án 28/7/2023. Về hình phạt bổ sung: buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt quản chế 02 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt tù. Về biện pháp tư pháp: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Truy thu của bị cáo Đặng Thị L 15.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước. Về xử lý vật chứng: không xem xét giải quyết. Về án phí: bị cáo Đặng Thị L trên 70 tuổi được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

* Lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo đã khai nhận đầy đủ với các cơ quan tố tụng. Bị cáo đã già, mang nhiều bệnh. Bị cáo đề nghị quý Tòa giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, truy tố trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 22 giờ 00 phút ngày 22/4/2006, tại nhà ở của Đặng Thị L ở thôn L, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương, Đặng Thị L đã có hành vi bán 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) tiền Việt Nam giả cho Vũ Văn H và nhận từ H 15.000.000đồng.

[3] Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý tiền tệ. Bị cáo nhận thức được hành vi bán 30.000.000đồng tiền Việt Nam Đồng giả để lấy 15.000.000đồng tiền Việt Nam Đồng thật là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì động cơ tư lợi cá nhân vẫn cố ý thực hiện.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào năm 2006, sau khi có quyết định khởi tố đã bỏ trốn và bị truy nã. Ngày 27/7/2023, bị cáo đến Công an huyện G, tỉnh Hải Dương đầu thú. Do vậy, căn cứ vào Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và điểm c khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết 41 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội hướng dẫn thi hành Bộ luật Hình sự thì việc Viện kiểm sát nhân dân Tối cao quyết định truy tố bị cáo L về tội tàng trữ, lưu hành tiền giả theo khoản 2 Điều 180 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm nguy hiểm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Hiện nay bị cáo đã trên 70 tuổi; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án; ngày 27/7/2023 đã đến Công an huyện G, tỉnh Hải Dương đầu thú nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, tuy hành vi của bị cáo tại bản án trên bị truy tố trước nhưng bị xét xử sau khi bị cáo bị khởi tố đối với vụ án này nên Hội đồng xét xử xác định bản án trên là nhân thân và không phải tiền án.

[5] Về hình phạt:

[5.1] Về hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả tội phạm bị cáo đã gây ra, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo L mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân sống có ích cho xã hội. Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên căn cứ khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, áp dụng cho bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Tại Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt bị cáo 06 năm tù về tội “Lưu hành tiền giả”. Tổng hợp hình phạt 05 năm tù tại Bản án hình sự phúc thẩm số 2080 ngày 21/10/1999 của Tòa phúc thẩm - Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã xử Đặng Thị L về tội “Lưu hành tiền giả”; buộc Đặng Thị L phải chấp hành hình phạt chung cả hai bản án là 11 năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/7/2023. Phạt quản chế Đặng Thị L tại địa phương (xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương) 02 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù. Căn cứ các Điều 55, 56 của Bộ luật Hình sự, hội đồng xét xử sẽ tổng hợp hình phạt của các bản án đối với bị cáo L.

[5.2] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo đã trên 70 tuổi, đang phải chấp hành bản án với mức án là 11 năm tù nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa, bị cáo L xác định đã nhận của Vũ Văn H số tiền 15.000.000 đồng tiền thật từ việc bán 30.000.000đ tiền giả nên cần truy thu, buộc bị cáo Đặng Thị L phải nộp số tiền này sung quỹ Nhà nước theo quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự.

[7] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên bị cáo là người cao tuổi nên miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thị L phạm tội “Tàng trữ, lưu hành tiền giả”.
  2. Căn cứ: khoản 2 Điều 180 (Bộ luật hình sự năm 1999); khoản 1 Điều 7; Điều 38; Điều 46; Điều 47; điểm s, o, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 54, Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điểm đ khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội. Điểm b khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  3. Về hình phạt:

    Xử phạt bị cáo Đặng Thị L 04 (bốn) năm tù. Tổng hợp hình phạt 11 (mười một) năm tù của Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 15 (mười lăm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/7/2023.

    Phạt quản chế bị cáo Đặng Thị L tại địa phương (xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương) 02 (hai) năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

  4. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu của bị cáo Đặng Thị L số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.
  5. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đặng Thị L.
  6. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Vụ GĐKT I - TANDTC;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - CQCSĐT, CQTHAHS - CA tỉnh Hải Dương;
  • - Phòng HSNV - CA tỉnh Hải Dương;
  • - Trại tạm giam - CA tỉnh Hải Dương;
  • - Trại giam Ngọc Lý- Bộ công an;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Tòa Hình sự, VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về tàng trữ, lưu hành tiền giả

  • Số bản án: 46/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ, lưu hành tiền giả
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Thị L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger