Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HS-ST

Ngày: 11/7/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG

Tại điểm cầu trung tâm:

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

    Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Giang.

    Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan và ông Phạm Văn Thấu.

  • - Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Tâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thu Hà và bà Phạm Thị D - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần:

  • - Người tiến hành tố tụng:

    Ông Trần Khoa T - Thư ký Toà án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

    - Bà Nguyễn Thị T1 - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

Người tham gia tố tụng khác:

  • - Ông Nguyễn Đức S - Cán bộ trại tạm giam Công an tỉnh H.

Ngày 11/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương là điểm cầu trung tâm và tại trại tạm giam Công an tỉnh H là điểm cầu thành phần, xét xử sơ thẩm trực tuyến, công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HS ngày 28/6/2024, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Tuấn M, sinh năm 2002, tại xã H, huyện G, tỉnh Hải Dương;

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện G, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Họ và tên cha: Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1944; Họ và tên mẹ: Trịnh Thị L, sinh năm 1971; Tiền sự, Tiền án: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/4/2024, chuyển tạm giam từ ngày 13/4/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện G, tỉnh Hải Dương. Có mặt.

2. Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 2001, tại xã H, huyện G, tỉnh Hải Dương;

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện G, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Họ và tên cha: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1978; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1978; Tiền sự, Tiền án: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/4/2024, chuyển tạm giam từ ngày 13/4/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Phạm Công L1, sinh năm 1999. Vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1956. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Tuấn M và Nguyễn Văn Đ1 là bạn bè cùng thôn và đều đã từng sử dụng ma túy dạng Cỏ. Khoảng đầu tháng 3 năm 2024, M lên mạng xã hội Facebook (không nhớ tên trang Facebook) để tìm và đặt mua 1.500.000 đồng ma túy dạng Cỏ về để sử dụng và bán kiếm lời. Khoảng 3 đến 4 ngày sau, có người giao hàng liên lạc (không rõ tên tuổi địa chỉ, số điện thoại liên lạc) để giao ma túy C1 thì M hẹn người giao hàng đến khu vực Trường mầm non T3, xã H, huyện G. Do bận đi làm nên M gặp Đ1, đưa cho Đ1 1.500.000 đồng nhờ Đ1 đến địa điểm trên để nhận hàng hộ, nhưng M không nói cho Đ1 biết hàng là ma túy Cỏ, Đ1 đồng ý. Khoảng 9 đến 10 giờ sáng cùng ngày, Đ1 đi ra cổng Trường mầm non gặp người giao hàng, Đ1 thanh toán tiền và nhận 01 gói hàng bọc nilon màu đen rồi mang về nhà. Buổi tối cùng ngày, Đ1 đem gói hàng vào phòng ngủ của M, đưa gói hàng cho M. M mở gói hàng trong có túi nilon nhỏ màu đen bên trong có các hỗn hợp thực vật màu xanh – nâu được nghiền, cắt nhỏ là ma túy Cỏ. Lúc này, Đ1 nhìn biết đó là ma túy C1 vì trước đây Đ1 đã từng sử dụng. M có nói với Đ1 mua ma túy C1 về để M sử dụng nếu có ai người lạ hỏi mua thì bán để kiếm tiền lời. M lo sợ khi bán ma túy sẽ bị bắt nên M thỏa thuận với Đ1 khi có người mua ma túy C1 thì Đ1 sẽ đi giao, cầm tiền về cho M, tiền lãi M và Đ1 sẽ sử dụng khi chi tiêu, ăn uống sinh hoạt chung. Sau đó, M lấy số ma túy C1 trong túi nilon đen cất giấu vào 01 túi nion trắng để ở trên giường phòng ngủ của mình (vứt túi nilon đen đi). M đã sử dụng một phần ma túy Cỏ (không nhớ cụ thể đã sử dụng ở đâu, thời gian nào).

Chiều ngày 05/4/2024, tại đường T, xã H, Đ1 gặp bạn cùng thôn là Phạm Công L1, sinh năm 1999. L1 biết trước đây Đ1 có sử dụng ma túy Cỏ nên có hỏi Đ1 xem có ai bán ma túy dạng Cỏ thì Đ1 bảo M có bán, L1 bảo lúc nào cần thì nhắn tin hỏi mua. Đ1 về nói với M: thằng L1 ở L hỏi mua Cỏ, khi nào mua thì nó liên lạc sau. Khoảng 15 giờ, ngày 07/4/2024, Đ1 đang ở nhà thì L1 dùng tài khoản ứng dụng Messenger “Luân's Sún'ss” nhắn tin đến tài khoản M1 “Nguyễn Văn Đ1” của Đ1 hỏi mua 500.000 đồng ma túy dạng Cỏ. Đ1 bảo L1 nhắn tin cho M. L1 nhắn tin bằng tài khoản Facebook cho M với nội dung: “Bán cho tôi 5l", do M cũng nghe Đ1 nói L1 hỏi mua ma túy dạng Cỏ trước đó, nên M hiểu là L1 hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy Cỏ. M đồng ý bán và hẹn L1 đến nhà M để giao ma túy, nhưng L1 không xuống được nên M bảo L1 liên lạc với Đ1. L1 liên lạc với Đ1 hẹn khoảng 19 giờ đến 19 giờ 30 phút cùng ngày, đến khu vực quán N1 hoặc quán N2 ở khu đô thị Đ thuộc Khu A, thị trấn G để giao ma túy C1 cho L1 và thanh toán tiền. Sau đó, Đ1 dùng M1 “Nguyễn Văn Đ1” nhắn tin đến Messenger “Nguyen Tuan Minh” của M bảo gói sẵn ma túy C1 để Đ1 đem bán cho L1. M lấy một phần ma túy Cỏ trong túi nilon trên giường phòng ngủ của mình, dùng nilon trắng ở cuộn hình trụ rỗng và gói lại để sẵn trên giường. Khoảng 19 giờ cùng ngày, Đ1 đến vào phòng ngủ của M gặp M và cầm gói ma túy C1 đem đi bán cho L1. Đ1 đi nhờ xe mô tô của người thanh niên không quen biết đến khu đô thị Đ, khu A, thị trấn G để đợi gặp bán ma túy cho L1. Đến 19 giờ 55 phút cùng ngày, khi Đ1 đang đứng tại vỉa hè khu vực Nhà văn hóa khu A, thị trấn G thì bị tổ công tác Công an huyện G phối hợp cùng Công an thị trấn G phát hiện, bắt quả tang Đ1 có hành vi cất giấu trong túi quần dài bên trái đang mặc 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa chất rắn màu xanh - nâu dạng hỗn hợp thực vật nghiền nhỏ nghi là ma túy. Đ1 trình bày đó là ma túy dạng Cỏ của Nguyễn Tuấn M, sinh năm: 2002, trú tại thôn Đ, xã H, Đ1 đem bán hộ M cho người tên L1 ở thôn L, xã H với giá 500.000 đồng. Ngoài ra còn thu giữ của Đ1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu đen, lắp sim số: 0876936000. Quá trình bắt giữ có ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1956, ở khu A, thị trấn G, huyện G là người chứng kiến.

Tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Tuấn M, tại phòng ngủ của M, đã phát hiện và thu giữ trên giường những đồ vật sau: 01 túi nilon màu trắng chứa các chất rắn màu nâu-xanh dạng hỗn hợp thực vật nghiền nhỏ (M khai là ma túy dạng C1 để sử dụng và bán kiếm lời); 01 điện thoại Iphone Xs Max màu vàng, lắp sim số 0936629876 của M dùng liên lạc bán ma túy với L1; 01 cuộn nilon trắng hình trụ, rỗng đường kính 4,2cm, chiều dài 33cm của M dùng để đóng gói ma túy.

Kết luận giám định số 2609/KL-KTHS ngày 11/4/2024 của V - Bộ C2

kết luận: Tìm thấy chất ma túy MDMB- 4en-PINACA trong mẫu thực vật cắt nhỏ màu xanh - nâu ký hiệu M1 (gói thu của Đ1) và M2 (gói thu của M). Khối lượng mẫu lần lượt là 5,055 gam và 6,127 gam. Khối lượng MDMB- 4en-PINACA có trong mẫu lần lượt là 0,030 gam và 0,036 gam.

Cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 24/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện G, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Tuấn M và Nguyễn Văn Đ1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Gia Lộc giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự (BLHS); điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với cả hai bị cáo; căn cứ khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo M. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn M và bị cáo Nguyễn Văn Đ1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn M từ 25 tháng tù đế 28 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/4/2024; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ1 từ 24 tháng tù đến 27 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/4/2024; Hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: mẫu ký hiệu M1 có 4,700 gam mẫu thực vật cắt nhỏ màu xanh nâu, mẫu ký hiệu M2 có 5,745 gam mẫu thực vật cắt nhỏ màu xanh nâu, vỏ bao gói mẫu được niêm phong trong phong bì niêm phong số 2609/KL-KTHS, 01 cuộn nilong màu trắng, hình trụ, rỗng đường kính 4,2 cm, chiều dài 33 cm, sim số 0876.936.000 và sim số 0936.629.876; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu đen và 01 điện thoại Iphone Xs Max màu vàng. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST.

Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, xác định nội dung bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện G và quyết định truy tố, luận tội của VKSND huyện Gia Lộc đối với các bị cáo là đúng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện được xác định là hợp pháp.

  2. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và một số tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 55 phút ngày 07/4/2024, tại khu vực nhà văn hóa khu A, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn Đ1 có hành vi cất giấu 5,055 gam thực vật nghiền nhỏ chứa 0,030 gam chất ma túy MDMB-4en-PINACA, là ma túy của Nguyễn Tuấn M, Nguyễn Văn Đ1 đang đem đi giao cho Phạm Công L1 thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Ngoài ra, còn thu giữ trên giường tại phòng ngủ của M 6,127 gam thực vật nghiền nhỏ chứa 0,036 gam chất ma túy MDMB-4en-PINACA, M khai mục đích để bán kiếm lời. Tổng khối lượng 11,182 gam thực vật có chứa chất ma túy MDMB-4en-PINACA của M có khối lượng là 0,066 gam.

  3. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động, các bị cáo vẫn cố ý thực hiện để thu lợi bất chính, kiếm tiền tiêu xài cá nhân; lượng ma túy bị cáo M đã bán và cất giấu để bán là 0,066 gam MDMB-4en-PINACA; đồng thời M đề xuất với Đ1 về việc bán ma túy, số tiền lãi cùng sử dụng, bị cáo Đ1 biết được lượng ma túy bị cáo M mua, đồng ý với M sẽ đi giao bán hộ M, tiền lãi thu được sẽ sử dụng chung nên Đ1 phải chịu trách nhiệm hình sự đối với lượng ma túy là 0,066 gam MDMB-4en-PINACA mà M đã bán và cất giấu để bán. Do đó, VKSND huyện Gia Lộc truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn M và bị cáo Nguyễn Văn Đ1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

  4. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây tác hại lớn về nhiều mặt, ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Ma túy có tác hại rất lớn đến con người cũng như toàn xã hội. Nó không chỉ là nguyên nhân lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS mà còn là nguồn phát sinh các loại vi phạm, tội phạm khác. Do đó cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục, trừng trị, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

  5. Đây là vụ án đồng phạm nên cần phân tích đánh giá vai trò của từng bị cáo để cá thể hóa hình phạt: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo tuy có sự thống nhất cùng thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhưng giữa các bị cáo không có sự phân công, câu kết chặt chẽ. Bị cáo M là người mua ma túy, đề xuất việc bán ma túy để kiếm lời, cất giấu số ma túy đã mua được, thỏa thuận mua bán ma túy với Nguyễn Công L2 nên giữ vai trò thứ nhất. Bị cáo Đ1 đồng ý bán ma túy của M để kiếm lời, là người bảo với L2 là M có ma túy để bán, đem ma túy đi để bán cho L2 nên giữ vai trò thứ hai.

  6. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo M có bố đẻ là ông Nguyễn Minh Đ được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất và Huy chương vì sự nghiệp giáo dục nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

  7. Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội một thời gian thích hợp để Nhà nước giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

  8. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

  9. Về vật chứng:

    • Đối với vỏ bao gói mẫu được niêm phong trong phong bì niêm phong số 2609/KL-KTHS, 01 cuộn nilong màu trắng, hình trụ, rỗng đường kính 4,2 cm, chiều dài 33 cm, xét thấy đây là vật không có giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy.

    • Đối với mẫu ký hiệu M1 có 4,700 gam mẫu thực vật cắt nhỏ màu xanh nâu, mẫu ký hiệu M2 có 5,745 gam mẫu thực vật cắt nhỏ màu xanh nâu, được hoàn lại sau giám định, xét thấy những mẫu vật này có chứa chất ma túy MDMB-4en-PINACA, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

    • Đối với 01 điện thoại Iphone Xs Max màu vàng, lắp sim số 0936.629.876 thu giữ của bị cáo M: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định là tài sản của M, M dùng chiếc điện thoại trên vào việc phạm tội, xét thấy chiếc điện thoại còn giá trị nên tịch thu sung quỹ Nhà nước là phù hợp; còn với sim số: 0936.629.876, xét thấy đây là vật không có giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy.

    • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu đen, lắp sim số: 0876.936.000 thu giữ của bị cáo Đ1: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định là tài sản của Đ1, Đ1 dùng chiếc điện thoại trên vào việc phạm tội, xét thấy chiếc điện thoại còn giá trị nên tịch thu sung quỹ Nhà nước là phù hợp; còn với sim số: 0876.936.000, xét thấy đây là vật không có giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy.

  10. Đối với người đã bán ma túy cho M, tuy nhiên M không biết người này và không nhớ trang mạng xã hội Facebook đăng bán ma túy nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.

  11. Đối với hành vi Nguyễn Tuấn M và Nguyễn Văn Đ1 sử dụng trái phép ma túy Cỏ nhưng M và Đ1 đều không nhớ cụ thể thời gian, địa điểm đã từng sử dụng ma túy, kết quả xét nghiệm tìm chất ma túy ngày 08/4/2024 của M và Đ1 đều âm tính nên không đủ căn cứ để xử lý về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

  12. Đối với Phạm Công L1, có hành vi liên lạc hỏi mua của Nguyễn Tuấn M và Nguyễn Văn Đ1 500.000 đồng ma túy Cỏ ngày 07/4/2024 tuy nhiên L1 chưa mua được ma túy và chưa thanh toán tiền mua ma túy cho Đ1 và M, hơn nữa L1 chưa bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa bị kết án về các tội quy định tại Điều 248, 249, 250, 251, 252 của Bộ luật Hình sự nên hành vi của L1 không đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự nên không đề cập vấn đề xử lý là phù hợp.

  13. Đối với người cho L1 mượn điện thoại để L1 hỏi mua ma túy của M và người cho Đ1 đi nhờ xe để Đ1 đi bán ma túy cho L1 thì họ đều không biết việc này nên không đề cập vấn đề xử lý là phù hợp.

  14. Về án phí: Các bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, các Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo Nguyễn Tuấn M và bị cáo Nguyễn Văn Đ1. Áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tuấn M.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn M và bị cáo Nguyễn Văn Đ1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn M 25 (hai mươi lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/4/2024.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ1 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/4/2024.

    Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

  2. Về xử lý vật chứng:

    • Tịch thu, tiêu hủy: Mẫu ký hiệu M1 có 4,700 gam mẫu thực vật cắt nhỏ màu xanh nâu, mẫu ký hiệu M2 có 5,745 gam mẫu thực vật cắt nhỏ màu xanh nâu và vỏ bao gói mẫu (được niêm phong trong phong bì niêm phong số 2609/KL-KTHS); 01 cuộn nilong màu trắng, hình trụ, rỗng đường kính 4,2 cm, chiều dài 33 cm.

    • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone X, màu đen, số IMEI 353066108451786 và tịch thu tiêu hủy sim số 0876.936.000 (được lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu đen này)

    • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone Xs Max màu vàng, số máy MT5C2LL/A, số seri G6TYRAGRKPHF, số IMEI 353102102879621 và tịch thu tiêu hủy sim số 0936.629.876 (được lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max màu vàng)

    (Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện G và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lộc ngày 25/6/2024).

  3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tuấn M và bị cáo Nguyễn Văn Đ1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Gia Lộc;
  • - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an huyện Gia Lộc;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Gia Lộc;
  • - Trại giam Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Gia Lộc;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lộc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 46/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 19 giờ 55 phút ngày 07/4/2024, tại khu vực nhà văn hóa khu 1, thị trấn Gia Lộc, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn Đạt có hành vi cất giấu 5,055 gam thực vật nghiền nhỏ chứa 0,030 gam chất ma túy MDMB-4en-PINACA, là ma túy của Nguyễn Tuấn Minh, Nguyễn Văn Đạt đang đem đi giao cho Phạm Công Luân thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Ngoài ra, còn thu giữ trên giường tại phòng ngủ của Minh 6,127 gam thực vật nghiền nhỏ chứa 0,036 gam chất ma túy MDMB-4en-PINACA, Minh khai mục đích để bán kiếm lời. Tổng khối lượng 11,182 gam thực vật có chứa chất ma túy MDMB-4en-PINACA của Minh có khối lượng là 0,066 gam
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger