|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2023/HSST.
Ngày: 18/8/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Vĩ Bửu.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Kim Hương – Hiệu trưởng Trường Tiểu học Phú Thọ, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Nguyễn Thị Thùy Dương – Cán bộ Ủy ban nhân dân Phường 14, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Vương Thanh Ngọc – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Trúc Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2023, Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai Vụ án hình sự thụ lý số: 29/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2023 đối với các bị cáo:
- PMT, sinh ngày xx/yy/2005; giới tính: Nam; nơi sinh Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: xx đường yy, xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không có; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; con ông NVB và bà PTTN. Tiền án, tiền sự: Không có.
- NH, sinh ngày: xx/yy/1963; giới tính: Nam; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: xx đường yy, Phường 16, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không có; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 2/12; con ông NVK (chết) và bà HTH (chết). Tiền án tiền sự: Không có.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2023 tại Nhà tạm giữ Công an Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh (bị cáo có mặt).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 29/3/2023 (bị cáo có mặt).
* Bị hại Ông TMT, sinh năm 1978;
Địa chỉ: xx đường yy, Phường 2, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo PMT:
Ông Bùi Thới Vinh - Luật sư của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: 470 Nguyễn Tri Phương, Phường 9, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo PMT:
Ông NVB, sinh năm 1973 (vắng mặt).
Bà PTTN, sinh năm 1984 (có mặt).
Địa chỉ: xx đường yy, xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo PMT là nhân viên quán ăn của anh TMT, địa chỉ: 264 Minh Phụng, Phường 2, Quận 11. Ngày 20/01/2023, T xin nghỉ nhưng vẫn giữ chìa khóa cửa để chờ lúc quán sơ hở trộm cắp tài sản.
Khoảng 13 giờ 30 ngày 24/01/2023, khi quán nghỉ tết Nguyên đán, do cần tiền tiêu xài, T đến quán trên dùng chìa khóa mở cửa, vào trong tìm tài sản. Khi lục soát đến phòng ngủ thì bị khóa. T xuống bếp lấy 01 con dao rồi cạy, mở cửa phòng ngủ của anh T. T vào trong trộm cắp 01 lắc vàng; 01 nhẫn nam; 01 nhẫn nam; 02 nhẫn nữ; 01 đôi bông tai; 01 vòng đeo tay; 01 điện thoại di động hiệu Vivo V9; 01 máy tính bảng hiệu Samsung Tab A, tất cả cất vào 01 ba lô và 1.000.000 đồng cất vào túi quần đang mặc. T bỏ lại con dao tại cầu thang rồi bỏ chạy thoát.
Sau khi trộm cắp tài sản, T đón xe Grap đến tiệm vàng bán nhưng không được do không có hóa đơn mua vàng. Khi đi bộ đến trước nhà số 313A Minh Phụng, Phường 2, Quận 11, T gặp bị cáo NH làm nghề chạy xe ôm, đang chờ khách. T nhờ H giả là chú của T để bán vàng và sẽ trả công 6.000.000 đồng. H hỏi nguồn gốc số vàng thì T nói do mẹ đưa. H đồng ý rồi điều khiển xe mô tô hiệu Wave, biển số 52M9-7129 chở T đến tiệm vàng Kim Ánh, địa chỉ: 75 Phú Thọ, Phường 1, Quận 11. Trên đường đi, H tiếp tục hỏi thì T nói do ít tuổi và vàng không có hóa đơn nên T không bán được. Lúc này, H nghĩ số vàng trên do T trộm cắp của mẹ. Khi đến tiệm vàng Kim Ánh, T đưa H 01 lắc tay. H giả vờ nói với chị Nguyễn Thị Tố Trinh (là nhân viên tiệm vàng) lắc tay trên là của H, đã làm mất giấy tờ. H bán lắc tay trên với giá 54.768.000 đồng. Tuy nhiên, khi T tiếp tục bán số vàng còn lại thì chị Trinh không mua. T đếm tiền rồi đưa H 6.000.000 đồng. T kêu H tìm nơi khác bán số vàng còn lại. Trên đường đi, H hỏi lại nguồn gốc số vàng thì T thừa nhận vàng do trộm cắp mà có và hứa sẽ cho H thêm 5.000.000 đồng khi bán được vàng, H đồng ý. H chở T đến tiệm vàng Thành An 2, địa chỉ: 166 Tân Hòa Đông, Phường 14, Quận 6. H đứng chờ bên ngoài, còn T vào trong bán số vàng còn lại được 21.000.000 đồng. Khi bán xong, T đưa H 5.000.000 đồng như thỏa thuận. Sau đó, T kêu H chở đi mua điện thoại. H chở T đến cửa hàng điện thoại, địa chỉ: 1075A Hậu Giang, Phường 11, Quận 6. T vào trong mua 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro max với số tiền 35.055.000 đồng, 01 tai nghe Airpods Pro với số tiền 4.590.000 đồng. Sau đó, T trả tiền công vận chuyển cho H 200.000 đồng. H rời đi còn T đón xe đi An Giang. Trên đường đi, T làm rơi mất 01 điện thoại di động hiệu Vivo V9 trộm cắp được. Số tiền còn lại là 25.923.000 đồng, T đã tiêu xài hết, T giữ 01 máy tính bảng hiệu Samsung Tab A để sử dụng.
Lúc 15 giờ 00 ngày 26/01/2023, anh TMT phát hiện bị trộm cắp tài sản nên đến Công an Phường 2, Quận 11 trình báo. Qua truy xét, Đội cảnh sát hình sự Công an Quận 11 phối hợp Công an phường Phước Mỹ, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang bắt người trong trường hợp khẩn cấp đối với T và thu giữ 01 máy tính bảng hiệu Samsung Tab A, là tài sản bị trộm cắp.
Ngày 26/3/2023, NH đến đầu thú tại Công an Công an Quận 11 cùng số tiền 11.200.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 01/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận 11, kết luận: 01 lắc tay vàng 18K trọng lượng 1,956 lượng trị giá 79.323.624 đồng; 01 nhẫn vàng 18K trọng lượng 2,2 chỉ trị giá 8.921.880 đồng; 01 nhẫn vàng 18K trọng lượng 2,22 chỉ trị giá 9.002.988 đồng; 02 nhẫn vàng 18K, trọng lượng 0,896 chỉ, trị giá 3.633.638 đồng; 01 vòng đeo tay vàng 18K, trọng lượng 0,65 chỉ, trị giá 2.636.010 đồng; 01 đôi bông tai vàng 18K trọng lượng 0,7 chỉ trị giá 2.838.780 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Vivo V9, trị giá 1.140.000 đồng; 01 máy tính bảng hiệu Galaxy Tab A, trị giá 1.500.000 đồng, tổng cộng là 108.996.920 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo PMT và NH thừa nhận hành vi phạm tội như trên.
Tại Cơ quan điều tra, chị Nguyễn Thị Tố Trinh là nhân viên tiệm vàng Kim Ánh trình bày: Khoảng 13 giờ ngày 24/01/2023, H cùng T đến tiệm vàng Kim Ánh. T đưa H 01 lắc vàng. H nói lắc vàng trên trước đây mua tại tiệm vàng nhưng bị mất hóa đơn. Chị Trinh tin tưởng nên mua với giá 54.768.000 đồng. Chị Trinh cho biết lắc vàng trên đã nấu chảy cùng số vàng khác để làm trang sức. Chị Trinh không biết việc trộm cắp trên.
Tại Cơ quan điều tra, chị Ngô Thị Sương là chủ tiệm vàng Thành An 2 trình bày: Khoảng trưa ngày 24/01/2023, H cùng T đến tiệm vàng Thành An 2. T bán 04 nhẫn vàng, 01 vòng, 01 đôi bông tai. Khi bán vàng, T nói là mẹ đưa đi bán. Chị Sương tin tưởng nên mua với giá 21.000.000 đồng. Chị Sương cho biết số vàng trên đã nấu chảy cùng số vàng khác để làm trang sức. Chị Sương không biết việc trộm cắp trên.
Vật chứng không thu giữ:
- 01 lắc vàng; 01 nhẫn nam 2,2 chỉ; 01 nhẫn nam 2,22 chỉ; 02 nhẫn nữ, 0,866 chỉ/nhẫn; 01 đôi bông tai; 01 vòng đeo tay; 01 điện thoại di động hiệu Vivo V9; 01 ba lô; 1.000.000 đồng, là tài sản bị trộm cắp.
Vật chứng thu giữ:
- 01 máy tính bảng hiệu Samsung Tab A, là tài sản bị trộm cắp. Cơ quan điều tra đã trả lại bị hại là anh TMT.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax; 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa; 01 tai nghe Airpods Pro, là các tài sản do bị cáo T dùng tiền phạm tội mua được.
- 02 chìa khóa của quán ăn tại địa chỉ: 264 Minh Phụng, Phường 2, Quận 11.
- 01 ba lô màu nâu đen; 01 túi đeo chéo màu đỏ; 01 áo sơ mi màu đen; 01 áo khoác màu đen; 01 quần dài màu xám, là các trang phục của bị cáo T .
- 01 con dao dài 42 cm, là dụng cụ bị cáo T dùng mở khóa cửa.
- 01 xe mô tô hiệu Wave, biển số 52M9-7129, là phương tiện của bị cáo H chở bị cáo T tiêu thụ tài sản. Qua xác minh là của bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh. Năm 2004, bà Hạnh bán xe trên cho 01 thanh niên không rõ lai lịch. Bị cáo H cho biết mua xe trên cũng từ 01 người không rõ lai lịch.
- Số tiền 11.200.000 đồng, theo Giấy nộp tiền ngày 07/4/2023 tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, là tiền do bị cáo H phạm tội mà có.
- 01 USB chứa hình ảnh vụ việc.
Về trách nhiệm dân sự: Anh TMT đã thỏa thuận nhận bồi thường từ gia đình bị cáo T, không có yêu cầu gì khác và có đơn bãi nại cho bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số 34/CT-VKSQ11 ngày 15 tháng 5 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 đã truy tố các bị cáo như sau:
- Truy tố bị cáo PMT về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
- Truy tố bị cáo NH về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điểm c khoản 2 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo như sau:
- Căn cứ Điều 17; Điều 50; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101; điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo PMT từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ Điều 17; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 58; điểm c khoản 2 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo NH từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Hình phạt bổ sung: Các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứng như sau:
- 01 máy tính bảng hiệu Samsung Tab A, là tài sản bị trộm cắp. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh TMT là đúng quy định pháp luật nên không cần giải quyết lại trong vụ án.
- Trả lại cho bị cáo PMT 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax; 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa; 01 tai nghe Airpods Pro, là các tài sản do bị cáo T đã mua.
- Tịch thu và tiêu hủy 02 chìa khóa của quán ăn, địa chỉ: 264 Minh Phụng, Phường 2, Quận 11 do không còn giá trị sử dụng.
- Tịch thu và tiêu hủy 01 ba lô màu nâu đen; 01 túi đeo chéo màu đỏ; 01 áo sơ mi màu đen; 01 áo khoác màu đen; 01 quần dài màu xám, là các trang phục của bị cáo T khi phạm tội, không còn giá trị sử dụng.
- Tịch thu và tiêu hủy 01 con dao dài 42 cm, là dụng cụ bị cáo T dùng mở khóa cửa.
- Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 11.200.000 đồng, theo Giấy nộp tiền ngày 07/4/2023 tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, là tiền do bị cáo H phạm tội mà có.
- Thông báo trong thời hạn 12 tháng để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận đối với xe gắn máy hiệu Wave, biển số 52M9-7129. Quá thời hạn trên kể từ ngày Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Lưu vào hồ sơ vụ án 01 USB chứa hình ảnh vụ việc.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh TMT đã nhận bồi thường từ gia đình bị cáo PMT, không có yêu cầu gì khác và có đơn bãi nại cho bị cáo T.
* Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo PMT trình bày:
- Thống nhất về điều khoản, tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố.
- Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Bị cáo phạm tội khi chưa thành niên; thực hiện hành vi phạm tội do nhất thời, nông nổi; bị cáo đã ăn năn hối cải. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, khả năng nhận thức pháp luật hạn chế.
- Đề nghị Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù bằng với hạn tạm giam để tạo điều kiện cho bị cáo trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về chứng cứ xác định có tội:
Khoảng 13 giờ 30 ngày 24/01/2023, bị cáo PMT đã thực hiện hành vi trộm cắp tại quán ăn của anh TMT, địa chỉ 264 Minh Phụng, Phường 2, Quận 11, các tài sản bị trộm cắp gồm có:
- 01 lắc tay vàng 18K trọng lượng 1,956 lượng trị giá 79.323.624 đồng; 01 nhẫn vàng 18K trọng lượng 2,2 chỉ trị giá 8.921.880 đồng; 01 nhẫn vàng 18K trọng lượng 2,22 chỉ trị giá 9.002.988 đồng; 02 nhẫn vàng 18K trọng lượng 0,896 chỉ, trị giá 3.633.638 đồng; 01 vòng đeo tay vàng 18K, trọng lượng 0,65 chỉ, trị giá 2.636.010 đồng; 01 đôi bông tai vàng 18K trọng lượng 0,7 chỉ trị giá 2.838.780 đồng;
- 01 điện thoại di động hiệu Vivo V9, trị giá 1.140.000 đồng;
- 01 máy tính bảng hiệu Galaxy Tab A, trị giá 1.500.000 đồng;
- Số tiền: 1.000.000 đồng.
Tổng giá trị các tài sản bị trộm cắp là: 109.996.920 đồng
Bị cáo NH dù biết tài sản do phạm tội mà có nhưng vẫn giúp T bán 01 lắc tay vàng 18K trọng lượng 1,956 lượng trị giá 79.323.624 đồng; 01 nhẫn vàng 18K trọng lượng 2,2 chỉ trị giá 8.921.880 đồng; 01 nhẫn vàng 18K trọng lượng 2,22 chỉ trị giá 9.002.988 đồng; 02 nhẫn vàng 18K trọng lượng 0,896 chỉ, trị giá 3.633.638 đồng; 01 vòng đeo tay vàng 18K, trọng lượng 0,65 chỉ, trị giá 2.636.010 đồng; 01 đôi bông tai vàng 18K trọng lượng 0,7 chỉ trị giá 2.838.780 đồng. Tổng giá trị số tài sản trộm cắp mà bị cáo H đem đi tiêu thụ là: 106.356.920 đồng.
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận:
- Bị cáo PMT đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
- Bị cáo NH đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Tài sản do các bị cáo trộm cắp và tiêu thụ có giá trị lớn và các bị cáo đã cố ý thực hiện để đạt được mục đích của mình nên cần phải xử lý nghiêm, các bị cáo cần phải chịu mức hình phạt tù đủ dài mới có tác dụng giáo dục, sửa đổi bản thân và nhằm răn đe, phòng ngừa chung.
* Về tình tiết tăng nặng: Không có.
* Về tình tiết giảm nhẹ:
- Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Gia đình bị cáo T đã bồi thường thiệt hại cho bị hại là anh TMT và anh T cũng đã có Đơn xin bãi nại cho bị cáo T nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo T khi phạm tội dưới 18 tuổi nên được áp dụng các quy định tại Chương XII Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Bị cáo H ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
* Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, gia đình bị cáo T đã bồi thường thiệt hại cho bị hại nên không cần thiết phạt tiền đối với các bị cáo.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh TMT đã nhận bồi thường từ gia đình bị cáo PMT, không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.
* Về xử lý vật chứng:
[2] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 11, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 17; Điều 50; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101; điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo PMT phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo PMT 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 29/01/2023.
Căn cứ Điều 17; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 58; điểm c khoản 2 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo NH phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".
Xử phạt bị cáo NH 03 (ba) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt để thi hành án.
Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xử lý vật chứng:
- Trả lại cho bị cáo PMT 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax; 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa; 01 tai nghe Airpods Pro.
- Tịch thu và tiêu hủy 02 chìa khóa; 01 ba lô màu nâu đen; 01 túi đeo chéo màu đỏ; 01 áo sơ mi màu đen; 01 áo khoác màu đen; 01 quần dài màu xám; 01 con dao dài 42 cm.
- Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 11.200.000 đồng, theo Giấy nộp tiền ngày 07/4/2023 tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam.
- Thông báo trong thời hạn 12 tháng để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận đối với xe gắn máy hiệu Wave, biển số 52M9-7129. Quá thời hạn trên kể từ ngày Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Lưu vào hồ sơ vụ án 01 USB chứa hình ảnh vụ việc.
(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số: 18/LNK-ĐCSHS ngày 07/02/2023 và Lệnh nhập kho vật chứng số 37/LNK-ĐCSHS ngày 04/4/2023 của Công an Quận 11).
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Về án phí hình sự sơ thẩm:
Bị cáo PMT chịu án phí 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo NH chịu án phí 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vương Vĩ Bửu |
Bản án số 46/2023/HSST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 46/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp
