|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số: 46/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 18/6/2024.
(V/v: Ly hôn)
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà: Lê Thị Kiều Thu.
- Bà: Lưu Thị Thôi.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Huỳnh Thanh Trúc - Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết: Bà Cao Thị Hường – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 69/2024/TLST- HNGĐ ngày 06/3/2024 “V/v: Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 234/2024/QÐST – HNGĐ ngày 06/5/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 275/2023/QÐST – HNGĐ ngày 27/5/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1970.
- Bị đơn: Bà Lê Thị Xuân T1, sinh năm 1969.
Cùng địa chỉ: khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện ngày 28 tháng 02 năm 2024, bản tự khai ngày 07/3/2024 và trong quá trình xét xử nguyên đơn ông Nguyễn Đình T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: ông và bà Lê Thị Xuân T1 tự nguyện tìm hiểu chung sống vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Trong quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu, thời gian sau này vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên thường xuyên xảy ra gây gổ nhau, từ năm 2017 vợ chồng tự sống ly thân cho đến nay. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Lê Thị Xuân T1.
- Về con chung: không có.
- Về tài sản chung và nợ chung: ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, ông Nguyễn Đình T trình bày: vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với bà Lê Thị Xuân T1 vì vợ chồng đã sống ly thân nên không còn tình cảm nữa. Về con chung: không có. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Toà án giải quyết.
*Bị đơn bà Lê Thị Xuân T1 có nơi cư trú tại khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Do bà T1 thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú nên Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng như: “thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, thông báo kết quả phiên họp, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa” theo quy định của Luật tố tụng dân sự.
Tại phiên Tòa vắng mặt bà Lê Thị Xuân T1.
Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký, của những người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng trình tự, thủ tục do Bộ Luật tố tụng dân sự quy định và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về con chung: không có, về tài sản chung và nợ chung ông T không yêu cầu giải quyết nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Tại phiên tòa do bị đơn vắng mặt nên nguyên đơn không tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về thủ tục tố tụng: thẩm quyền giải quyết vụ án, phía bị đơn bà Lê Thị Xuân T1 có nơi cư trú tại khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ theo qui định tại khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đình T về việc “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
Tại phiên tòa hôm nay bà Lê Thị Xuân T1 vắng mặt, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 02 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]Về nội dung khởi kiện:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử nhận thấy:
Ông Nguyễn Đình T và bà Lê Thị Xuân T1 chung sống vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện T, tỉnh Bình Thuận vào ngày 07/4/2004. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa ông T, bà T1 là hợp pháp. Ông T cho rằng vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu, thời gian sau này thường phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên từ năm 2017 vợ chồng tự sống ly thân. Theo xác minh tại địa phương cũng cho biết bà T1 thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú. Qua đây, cho thấy lời khai ông T phù hợp với xác minh tại địa phương và cho thấy tình trạng hôn nhân giữa ông và bà T1 thật sự là có mâu thuẫn xảy ra, bà T1 và ông T không còn chung sống với nhau thời gian đã lâu nên mục đích hôn nhân không đạt được nữa, do đó xét thấy không cần thiết phải tiếp tục hàn gắn để duy trì cuộc hôn nhân này.
Bà T1 thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú chứng tỏ bà T1 không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này nữa nên việc xét xử vắng mặt bà T1 là phù hợp, đảm bảo quyền lợi hợp pháp chính đáng cho ông T.
Từ những nhận định trên có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Đình T.
Về con chung: không có.
Về tài sản chung và nợ chung: ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên hội đồng xét xử không xét.
[3]Về án phí: ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1/Căn cứ vào: khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 233, Điều 235 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 01 Điều 51, khoản 01 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2/Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đình T.
-Về quan hệ hôn nhân: ông Nguyễn Đình T được ly hôn với bà Lê Thị Xuân T1.
-Về con chung: không có.
-Về tài sản chung và nợ chung: ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3/Về án phí: ông Nguyễn Đình T nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình. Ông T đã nộp 300.000 đồng tạm ứng phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số 0001342 ngày 06/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Phan Thiết, được chuyển thành án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Quyền kháng cáo của nguyên đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (18/6/2024). Quyền kháng cáo của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa VŨ THỊ THU HÀ |
Bản án số 46/2024/HNGĐ - ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn
- Số bản án: 46/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào: khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 233, Điều 235 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 01 Điều 51, khoản 01 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đình Thuỳ. -Về quan hệ hôn nhân: ông Nguyễn Đình T được ly hôn với bà Lê Thị Xuân T. -Về con chung: không có. -Về tài sản chung và nợ chung: ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết
