Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀ CÚ

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HS-ST

Ngày 18-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Truyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lương Hữu Thanh

Ông Kim Ngọc Trường

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chế Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Kim Sum, Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 34/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 44/2024/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

  • - T, sinh ngày 11/6/1996, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú và nơi ở trước khi bị bắt ấp M, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch N, sinh năm 1964 và bà Trần Thị S, sinh năm 1964; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa từng bị kết án, chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào; Bị bắt quả tang, tạm giữ hình sự ngày 16/3/2024, đến ngày 22/3/2024 thì chuyển tạm giam cho đến nay, có mặt.

Tại điểm cầu T huyện T gồm có:

  • Bị cáo Thạch T, sinh ngày 11/6/1996, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú và nơi ở trước khi bị bắt ấp M, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê;
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Thạch Thị T1, sinh năm 2004. Địa chỉ ấp M, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.
  • Người làm chứng: Ông Thạch Nhất S1, sinh năm 1998. Địa chỉ ấp X, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.
  • Cán bộ hỗ trợ kỹ thuật: Ông Trần Văn T2, Thẩm phán, Công tác tại Tòa án nhân dân huyện Trà Cú.
  • Cán bộ hỗ trợ Kiểm sát viên: Ông Phan Văn T3, Kiểm tra viên, Công tác tại

2

Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú.

- Cán bộ nhà tạm giữ Công an huyện T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 35 phút ngày 16/3/2024, Tổ tuần tra gồm Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Công an xã L đang tuần tra tại khu vực ấp M, xã L thì phát hiện bị cáo Thạch T điều khiển xe mô tô hai bánh nhãn hiệu LIFAN, loại Dream màu nâu, biển số 51Z8-1267 chở bà Thạch Thị T1, sinh ngày 06/8/2004, nơi thường trú và nơi ở hiện tại ấp M, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Khi phát hiện lực lượng Công an, bị cáo T điều khiển xe mô tô bỏ chạy, Tổ tuần tra đuổi theo đến đoạn đường đất thuộc ấp M, xã L thì bị tổ tuần tra dừng xe kiểm tra. Thời điểm này, bị cáo T ném 01 (một) túi nilon màu đỏ xuống lề đường đất, bị cáo đã thừa nhận túi nilon màu đỏ nêu trên là của bị cáo vừa ném bỏ, bên trong túi nilon có để 01 (một) bịch nhựa chứa chất ma túy. Lực lượng Công an đã tiến hành kiểm tra, phát hiện và tạm giữ các đồ vật trong túi nilon trên gồm: 01 (một) ống thủy tinh dạng thẳng; 01 (một) ống thủy tinh được uốn cong, còn gọi là ống nỏ và 01 (một) bịch nhựa được hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể nghi là ma túy. Sau đó, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo Thạch T.

Tiến hành khám xét chỗ ở của bị cáo T, kết quả Cơ quan điều tra phát hiện và tạm giữ: 01 (một) chai nhựa trong suốt, kích thước 7cm x 3cm; 01 (một) nắp chai nhựa màu đỏ, trên nắp có 02 lỗ tròn; 01 (một) ống thủy tinh được uốn cong thường gọi là nỏ, kích thước 6,5cm x 0,3cm; 01 (một) ống nhựa màu trắng, kích thước 21,5cm x 0,3cm; 01 (một) ống nhựa trong suốt, kích thước 26,5cm x 0,3cm. Bị cáo T thừa nhận các đồ vật trên là của bị cáo cất giấu dùng để sử dụng chất ma túy khi có nhu cầu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tiến hành lập biên bản tạm giữ để phục vụ cho quá trình điều tra.

Qua lời khai nhận của bị cáo và kết quả điều tra xác định như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 16/03/2024, do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo T một mình điều khiển xe mô tô có đặc điểm nêu trên đến căn nhà có địa chỉ tại ấp X, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh để mua ma túy của một người thanh niên có tên gọi là “C”. Khi đến trước căn nhà, bị cáo T đứng ngoài cửa hàng rào và kêu “anh ơi”. Lúc này, có một người thanh niên đi từ trong nhà ra đứng trước cửa nhà. Người thanh niên hỏi bị cáo T: “gì vậy”, bị cáo T trả lời: “lấy hai xị”, có nghĩa là mua ma túy với giá 200.000 đồng. Lúc này, người thanh niên đồng ý bán ma túy cho bị cáo T và đi từ trong nhà ra gặp bị cáo đứng phía trong hàng rào. Người thanh niên đã đưa cho bị cáo T 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa bên trong có chứa chất ma túy. Sau khi nhận được ma túy đã mua, bị cáo T đưa tiền mua ma túy 200.000 đồng cho người thanh niên nêu trên. Khi bị cáo T chuẩn bị điều khiển xe mô tô trên để đem chất ma túy trên về nhà sử dụng thì người thanh niên hỏi bị cáo T nội dung “đi về hướng nào”. Bị cáo T trả lời “về hướng M”. Lúc này, người thanh niên nhờ bị cáo T và nói với bị cáo nội dung là “cho gửi đồ” và căn dặn bị cáo T khi đến cây cầu thuộc khu vực ấp M, xã L mọi người thường gọi cây cầu trên là cây cầu “B”, qua xác minh được biết là cầu

3

“Kinh tế 2” thì để túi “Đồ” trên tại cây cầu sẽ có người lại lấy. Bị cáo T đồng ý và nhận lấy 01 (một) túi nhựa màu đỏ, bị cáo không có kiểm tra bên trong là gì.

Bị cáo T điều khiển xe mô tô trên về nhà, trên đường về gần đến nhà của bị cáo T, có một vườn dừa ít người qua lại. Lúc này, bị cáo T dừng xe lại và đi vào bên trong vườn dừa, lấy 01 (một) đoạn ống nhựa có chứa chất ma túy mà bị cáo đã mua của người thanh niên nêu trên rồi đổ ma túy vào ống nỏ của bộ dụng cụ sử dụng ma túy của bị cáo mang theo trước đó và bị cáo sử dụng hết chất ma túy đã mua. Sau đó, bị cáo T tiếp tục điều khiển xe mô tô mang theo túi nhựa nillon màu đỏ mà người thanh niên nêu trên đã gửi theo bị cáo cùng với bộ dụng cụ sử dụng ma túy của bị cáo về nhà. Khi về đến nhà, bị cáo T cất giấu bộ dụng cụ sử dụng ma túy của bị cáo và mở túi nhựa ra xem thì thấy bên trong túi nhựa có: 01 (một) ống thủy tinh dạng thẳng; 01 (một) ống thủy tinh được uốn cong, còn gọi là ống nỏ và 01 (một) bịch nhựa được hàn kín bên trong có chứa chất ma túy.

Bị cáo T tiếp tục điều khiển xe mô tô trên đi chở bà Thạch Thị T1 tại ngã ba L thuộc xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh về nhà. Khi đi, bị cáo T mang theo bịch nhựa màu đỏ trên. Đến khoảng 19 giờ 35 phút cùng ngày trên đường chở bà T1 đến đoạn đường nhựa thuộc ấp M, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh thì bị cáo T bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và lập biên bản như trên.

Bản kết luận giám định số: 135/KL-KTHS ngày 21/03/2024, kết luận về đối tượng giám định: Tinh thể chứa trong 01 (một) nhựa được niêm phong gửi giám định là ma túy; loại: Methamphetamine; khối lượng: 1,6675 gam.

* Về việc tạm giữ và xử lý vật chứng có liên quan trong vụ án:

Ngày 21/03/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu của bị cáo Thạch T gồm:

  • - Tinh thể (sau giám định) có khối lượng 1,6488 gam được để trong túi niêm phong số 135/2024/M ghi ngày 21/3/2024 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ-CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M, Đặng Văn Đ.
  • - 01 (một) ống thủy tinh, kích thước 20cm x 0,3cm.
  • - 01 (một) ống thủy tinh được uốn cong thường gọi là nỏ kích thước 13,5cm x 0,3cm.
  • - 01 (một) túi nilon màu đỏ, kích thước 34cm x 24cm.
  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu LIFAN, loại Dream màu nâu, biển số 51Z8-1267, số khung: F3X000A41B001764, số máy: IP50FMG-310077750 (Đã qua sử dụng).
  • - 01 (một) chai nhựa trong suốt, kích thước 7cm x 3cm.
  • - 01 (một) nắp nhựa màu đỏ, trên nắp có 02 lỗ tròn.
  • - 01 (một) ống thủy tinh được uốn cong thường gọi là nỏ, kích thước 6,5cm x 0,3cm.
  • - 01 (một) ống nhựa màu trắng, kích thước 21,5cm x 0,3cm.
  • - 01 (một) ống nhựa trong suốt, kích thước 26,5cm x 0,3cm

4

Các vật chứng tạm giữ nêu trên hiện đang được quản lý tại kho vật chứng thuộc nhà tạm giữ Công an huyện T

- Đối với địa điểm và nguồn gốc ma túy mà bị cáo T đã mua để sử dụng: Qua điều tra, xác định địa điểm mà bị cáo T mua ma túy là nơi ở của ông Thạch Nhất S1 có tên thường gọi là “C”, sinh ngày 15/11/1998, có nơi thường trú và nơi ở hiện tại ấp X, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Qua lấy lời khai và đối chất giữa bị cáo và ông S1 không xác định được ông S1 là người bán ma túy và gửi ma túy cho bị cáo T vận chuyển trái phép cho người khác. Do đó, không đủ cơ sở xử lý ông S1 và bị cáo T về hành vi mua, bán trái phép chất ma túy, cũng như xử lý bị cáo T về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy mà xử lý bị cáo T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Đối với xe mô tô biển số 51Z8-1267: Là tài sản riêng của bà Thạch Thị T1 là người sống chung như vợ chồng với bị cáo T. Vào ngày 16/03/2024, việc bị cáo T đã tự ý sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tôi, bà T1 hoàn toàn không biết nên không có cơ sở xử lý đối với bà T1.

- Ngày 04/04/2024, Công an huyện T ra Quyết định số 38/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo Thạch T số tiền 3.500.000 đồng về hành vi cất giấu 01 (một) ống thủy tinh được uốn cong thường gọi là nỏ, kích thước 6,5cm x 0,3cm mà bị cáo dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, do Cơ quan điều tra đã tạm giữ tại nơi ở của bị cáo T theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2023 của Chính Phủ; đồng thời xử phạt bị cáo Thạch T số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2023 của Chính Phủ.

- Đối với 01 (một) ống thủy tinh, kích thước 20cm x 0,3cm và 01 (một) ống thủy tinh được uốn cong thường gọi là nỏ kích thước 13,5cm x 0,3cm, Cơ quan điều tra đã tạm giữ từ bị cáo T tại thời điểm bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo. Xét thấy, bị cáo T tàng trữ các dụng cụ trên không nhằm mục đích để sử dụng trái phép chất ma túy nên không xem xét xử lý đối với bị cáo T.

Tại Cáo trạng số 39/CT-VKS-HS, ngày 19/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Thạch T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo Thạch T trình bày: Thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như kết luận giám định, nhằm mục đích sử dụng trái phép thì bị bắt quả tang như cáo trạng truy tố. Đối với xe mô tô biển số 51Z8-1267 là của chị T1 (bạn gái bị cáo (khi bị cáo lấy đi mua ma túy thì chị T1 không biết, đối với người bán ma túy cho bị cáo thì bị cáo chưa gặp lần nào nên không nhận dạng được có phải anh Thạch Nhất S1 hay là không). Bị cáo không thay đổi lời khai.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Thạch Thị T1 trình bày: Xe mô tô biển số 51Z8-1267 là tài sản riêng của chị, bị cáo Thạch T lấy đi mua ma tuý thì chị không biết, chị cũng không biết bị cáo Thạch T sử dụng trái phép chất ma túy, chị xin nhận lại chiếc xe làm phương tiện đi lại.

5

Người làm chứng anh Thạch Nhất S1 trình bày: Anh không quen biết bị cáo Thạch T và anh cũng như gia đình không có ai mua bán ma túy gì cho bị cáo T.

Phần luận tội, sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh, tính chất mức độ hành vi của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”””.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Thạch T từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.

Việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu và tiêu huỷ toàn bộ vật chứng vụ án. Riêng 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu LIFAN, loại Dream màu nâu, biển số 51Z8-1267, số khung: F3X000A41B001764, số máy: IP50FMG-310077750 (Đã qua sử dụng) là tài sản riêng của chị T1, bị cáo sử dụng đi mua ma tuý thì chị T1 không biết nên đề nghị trả lại cho chị T1.

Bị cáo không phát biểu bào chữa, không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết mình sai và rất ăn năn hối hận, nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về gia đình và xã hội, bị cáo còn cha mẹ già, bị cáo là lao động chính nuôi gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Căn cứ vào lời khai của các bị cáo Thạch T trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ chứng cứ xác định vào khoảng 19 giờ 35 phút, ngày 16/3/2024, tại ấp M, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, bị cáo Thạch T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang. Căn cứ Bản kết luận giám định số: 135/KL-KTHS ngày 21/03/2024, kết luận về đối tượng giám định: Tinh thể chứa trong 01 (một) nhựa được niêm phong gửi giám định là ma túy; loại: Methamphetamine; khối lượng 1,6675 gam.

[2] Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo Thạch T là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường vụ án, phù hợp với thời gian bị cáo có mặt tại hiện trường vụ án, phù hợp với vật chứng thu giữ là chất ma túy và các dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy tự chế. Việc cơ quan Công an thu giữ chất ma túy khi bị cáo ném bỏ xuống đất là có sự chứng kiến của chị Thạch Thị T1, kết quả xét nghiệm thì bị cáo dương tính chất ma túy. Hành vi của bị cáo Thạch T đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, việc sử dụng ma túy gây ra hậu quả khôn lường như tạo ra nhiều người nghiện trong xã hội. Khi lên cơn nghiện thì gây ra cho người nghiện các ảo giác dẫn tới họ không kiểm soát được hành vi hậu quả có những hành vi phạm pháp, gây mất an toàn trật tự xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi tàng trữ trái phép khối

6

lượng 1,6675 gam, loại Methamphetamine của bị cáo Thạch T không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy mà nhằm mục đích sử dụng trái phép đã phạm vào tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Để góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội bảo vệ cuộc sống bình yên của người dân và của địa phương thì hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh theo pháp luật, cần thiết phải xử phạt các bị cáo mức án tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, nhằm để có đủ thời gian cho các bị cáo nhận thức được việc làm sai trái của mình mà lao động, cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội đối với những hành vi tươngXét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là có căn cứ chấp nhận nên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có nhân thân tốt, mới phạm tội lần đầu, là người dân tộc thiểu số và có trình độ học vấn thấp nên am hiểu pháp luật có phần bị hạn chế, bị cáo còn là lao động chính của gia đình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4] Về vật chứng vụ án: Đối với chất ma túy thu giữ sau giám định có khối lượng 1,6488 gam được để trong túi niêm phong số 135/2024/M ghi ngày 21/3/2024 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ-CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M, Đặng Văn Đ; 01 (một) ống thủy tinh, kích thước 20cm x 0,3cm; 01 (một) ống thủy tinh được uốn cong thường gọi là nỏ kích thước 13,5cm x 0,3cm; 01 (một) túi nilon màu đỏ, kích thước 34cm x 24cm; 01 (một) chai nhựa trong suốt, kích thước 7cm x 3cm; 01 (một) nắp nhựa màu đỏ, trên nắp có 02 lỗ tròn; 01 (một) ống thủy tinh được uốn cong thường gọi là nỏ, kích thước 6,5cm x 0,3cm; 01 (một) ống nhựa màu trắng, kích thước 21,5cm x 0,3cm và 01 (một) ống nhựa trong suốt, kích thước 26,5cm x 0,3cm đã qua sử dụng là vật cấm lưu hành nên tịch thu và tiêu huỷ. Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu LIFAN, loại Dream màu nâu, biển số 51Z8-1267, là tài sản riêng của chị T1, bị cáo sử dụng đi mua ma tuý thì chị T1 không biết nên cần trả lại cho chị T1.

[5] Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thườngvụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo Kiên Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; riêng bị cáo Thạch Minh S2 thuộc diện được miễn án phí hình sự.

[6] Hội đồng xét xử đã thẩm tra các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố và thấy rằng các quyết định của C1 tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, những người bào chữa được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

7

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố bị cáo Thạch T phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Thạch T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/3/2024.

Việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu huỷ:

  • - Chất ma túy thu giữ sau giám định có khối lượng 1,6488 gam được để trong túi niêm phong số 135/2024/M ghi ngày 21/3/2024 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ-CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M, Đặng Văn Đ;
  • - 01 (một) ống thủy tinh, kích thước 20cm x 0,3cm; 01 (một) ống thủy tinh được uốn cong thường gọi là nỏ kích thước 13,5cm x 0,3cm; 01 (một) túi nilon màu đỏ, kích thước 34cm x 24cm; 01 (một) chai nhựa trong suốt, kích thước 7cm x 3cm; 01 (một) nắp nhựa màu đỏ, trên nắp có 02 lỗ tròn; 01 (một) ống thủy tinh được uốn cong thường gọi là nỏ, kích thước 6,5cm x 0,3cm; 01 (một) ống nhựa màu trắng, kích thước 21,5cm x 0,3cm và 01 (một) ống nhựa trong suốt, kích thước 26,5cm x 0,3cm.

Trả cho chị Thạch Thị T1 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu LIFAN, loại Dream màu nâu, biển số 51Z8-1267, số khung: F3X000A41B001764, số máy: IP50FMG-310077750 (Đã qua sử dụng).

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Thạch T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Trà Cú;
  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Trà Vinh;
  • - Cơ quan CSĐTCA huyện Trà Cú;
  • - Cơ quan THAHSCA huyện Trà Cú;
  • - Cơ quan THADS huyện Trà Cú;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Trà Cú;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Truyền

8

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Kim Ngọc Trường Lương Hữu Thanh

Nguyễn Văn Truyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 18/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 46/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ Thạch Tiến tàng trữ ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger