Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17 - 5 - 2024

V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Văn Công;
  2. Bà Lê Thị Thiện.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Bương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án thụ lý số: 1158/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2023 về “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 13/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Kim H, sinh năm 1986; trú tại: 1 khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt
  2. Bị đơn: Ông Lê Văn H1, sinh năm 1968; trú tại: 2 khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 7 năm 2023, các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn – bà Phạm Thị Kim H trình bày:

Phạm Thị Kim H và ông Lê Văn H1 tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 83/KH2004, quyển số 06A ngày 12/8/2004.

Về con chung: Quá trình chung sống, bà Phạm Thị Kim H và ông Lê Văn H1 có 02 người con chung tên Phạm Ngọc B, sinh ngày 08/6/2002 và Phạm Hoàng M, sinh ngày 21/12/2004.

Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc. Sau đó vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hòa hợp. Vợ chồng nhiều lần tạo cơ hội để đoàn tụ nhưng không thành, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Vợ chồng sống ly thân với nhau.

Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn nên bà Phạm Thị Kim H khởi kiện yêu cầu như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Lê Văn H1.

Về con chung: Hai người con chung tên Phạm Ngọc B, sinh ngày 08/6/2002 và Phạm Hoàng M, sinh ngày 21/12/2004, đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tố tụng, bị đơn ông Lê Văn H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt và không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt

Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng.

Vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về xét xử sơ thẩm.

Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đối với việc xét xử nhưng vắng mặt không rõ lý do, không đến tham gia phiên tòa xem như từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử như sau: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn” của nguyên đơn

Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Phạm Thị Kim H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Lê Văn H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự

[2] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn nên quan hệ tranh chấp trong vụ án này là ly hôn theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ đơn khởi kiện, biên bản xác minh ngày 28/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An do Công an phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương cung cấp thể hiện bị đơn ông Lê Văn H1 có đăng ký tạm trú và sinh sống tại địa chỉ 246/2 khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[4] Về nội dung:

[4.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Kim H và ông Lê Văn H1 xác lập mối quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 83/KH2004, quyển số 06A ngày 12/8/2004 nên là hôn nhân hợp pháp.

Phạm Thị Kim H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Lê Văn H1 với lý do: Vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung thường xuyên cãi nhau nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Hiện vợ chồng đã sống ly thân nhau, không ai quan tâm đến ai. Xét quan hệ hôn nhân giữa người vợ và người chồng chỉ tồn tại bền vững dựa trên tình cảm thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và khi có những bất đồng quan điểm trong quan hệ vợ chồng thì người vợ và người chồng phải cùng nhau tích cực hàn gắn, xóa bỏ những mâu thuẫn, duy trì tình cảm tốt đẹp của vợ chồng. Nhưng quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Thị Kim H và ông Lê Văn H1 không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc. Do tình trạng hôn nhân của bà Phạm Thị Kim H và ông Lê Văn H1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Kim H về việc ly hôn với ông Lê Văn H1.

[4.2] Về con chung: Quá trình chung sống, bà Phạm Thị Kim H và ông Lê Văn H1 có 02 người con chung tên Phạm Ngọc B, sinh ngày 08/6/2002 và Phạm Hoàng M, sinh ngày 21/12/2004, hiện các con đã trưởng thành nên bà H không yêu cầu giải quyết là phù hợp quy định.

[4.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị Kim H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ những nhận định trên, có đủ cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Kim H.

[5] Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp quy định của pháp luật.

[6] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 244, Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
  • - Các Điều 51, 56, 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Kim H đối với ông Lê Văn H1 về việc “Ly hôn”.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Kim H được ly hôn với ông Lê Văn H1.
    • - Về con chung: Bà Phạm Thị Kim H và ông Lê Văn H1 có 02 người con chung tên Phạm Ngọc B, sinh ngày 08/6/2002 và Phạm Hoàng M, sinh ngày 21/12/2004, hiện các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
    • - Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

    Nguyên đơn bà Phạm Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000801 ngày 09/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thuận An;
  • - Chi cục THA thành phố Thuận An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HNGĐ-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn

  • Số bản án: 46/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger