Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TUYÊN QUANG

Bản án số: 46/2024/DS-PT

Ngày 17/5/2024

V/v: “Kiện yêu cầu đòi lại tài sản

là quyền sử dụng đất”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Nam.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thanh Hương, ông Ma Hồng Thắng;

- Thư ký phiên tòa: Bà La Thu Thảo, Thư ký, Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang: Bà Ma Thị Thắm - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 10/2024/TLPT - DS, ngày 22 tháng 3 năm 2024, về việc “K yêu cầu đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST, ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 31/2024/QĐ-PT, ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1948, địa chỉ: Tổ dân phố Q, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, (Có mặt).

2. Bị đơn: Ủy ban nhân dân huyện S; địa chỉ: Thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Người đại diện theo pháp luật: Ông Giang Tuấn A - Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện S; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Hải T - Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện S, (Có đơn xét xử vắng mặt).

3. Những người làm chứng:

  • - Ông Vũ Duy L, sinh năm 1944; ông Lê Văn P, sinh năm 1962; bà Trần Thị R, sinh năm 1952; ông Nguyễn Tiến D, sinh năm 1937; Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1960, cùng địa chỉ: Tổ dân phố Q, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
  • - Ông Trần Văn V, sinh năm 1967; bà Bùi Thị H, sinh năm 1965, cùng địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
  • - Ông Đặng Trung T1, sinh năm 1949, địa chỉ: Tổ dân phố M, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
  • - Ông Đỗ Văn V1, sinh năm 1955, địa chỉ: Tổ dân phố X, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

(Bà R có đơn xử vắng mặt; ông L, ông P, ông D, bà N1, ông V, bà H, ông T1, ông V1 vắng mặt không có lý do).

- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn N.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Văn N trình bày:

Ông sinh ra và lớn lên tại huyện M, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là huyện M, thành phố Hà Nội). Khoảng những năm 1960 ông cùng gia đình lên huyện S, tỉnh Tuyên Quang làm ăn sinh sống. Khoảng năm 1962, 1963 gia đình ông có khai phá được một số diện tích đất, trong đó có khoảng 300m² đất vườn tại khu vực thôn K, xã K (nay là tổ dân phố Q, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang), là thửa số 339, tờ bản đồ giải thửa số 9 (đo vẽ năm 1990). Gia đình ông sử dụng ổn định từ đó đến năm 1992, UBND huyện S đã lấy khoảng 150m² trong tổng số khoảng 300m² của thửa số 339 của ông để làm đường 13B. Gia đình ông tiếp tục sử dụng diện tích còn lại là khoảng 150m² đến năm 2001 UBND huyện S lại thu hồi để chia lô bán nền. Cả hai lần thu hồi đều không có quyết định và không bồi thường. Quá trình sử dụng gia đình ông trồng chuối, các loại rau màu và gieo mạ. Việc gia đình ông khai phá và sử dụng diện tích đất trên có rất nhiều người làm chứng và họ đã có ý kiến bằng văn bản, ông đã giao nộp kèm theo đơn khởi kiện. Việc sử dụng đất là thực tế chứ gia đình ông chưa kê khai đề nghị cấp quyền sử dụng đất do xác định đã là đất do mình khai phá ra và sử dụng là sự thật.

Năm 2001 khi UBND huyện S thu hồi đất để chia lô bán nền thì ông đã có kiến nghị, khiếu nại. Từ năm 2001 đến năm 2005 ông đã khiếu kiện khiếu nại ở nhiều cơ quan có thẩm quyền. Năm 2005 thì Chủ tịch UBND huyện S ra quyết định số 930/QĐ-CT ngày 10/5/2005 bác đơn của ông. Ông đã khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định số 930/QĐ-CT ngày 10/5/2005 tại Tòa án nhân dân huyện S và Tòa án nhân dân huyện S đã đình chỉ giải quyết vụ án tại Quyết định số 01/2005/QĐHC-ST này 01/9/2005 với lý do không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do không nhất trí với Quyết định nêu trên nên ông đã kháng cáo, tại quyết định số 01/QĐPT-HC ngày 10/10/2005, Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã giữ nguyên Quyết định số 01/2005/QĐHC-ST này 01/9/2005 của Tòa án nhân dân huyện S.

Ngày 28/7/2015, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T đã ban hành Quyết định số 103/QĐ-GQKN quyết định về việc xác minh nội dung đơn của ông Nguyễn Văn N trú tại tổ dân phố Q, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, nội dung quyết định nêu rõ: “1. Tiến hành kiểm tra, xác minh việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Văn N về nội dung thứ 4, nêu tại điểm 4 mục I, Báo cáo số 81/BC-TTr ngày 05/9/2014. Thời gian xác minh là 20 ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định này”. Tuy nhiên đến nay, ông chưa nhận được kết quả giải quyết. Sau đó ông đã khiếu kiện, khiếu nại đến nhiều cơ quan khác nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết.

Việc thu hồi đất của UBND huyện S là trái quy định của pháp luật, gây thiệt hại về kinh tế cho gia đình ông nên ông đề nghị Tòa án nhân dân huyện S buộc UBND huyện S phải bồi thường cho ông các khoản theo nội dung đơn khởi kiện, cụ thể: Buộc Ủy ban nhân dân huyện S phải bồi thường thiệt hại do hành vi thu hồi đất trái pháp luật của Ủy ban nhân dân huyện S đối với 300 m² đất tại khu vực đường A b thuộc tổ dân phố Q, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn N, cụ thể:

  • - Bồi thường bằng việc giao quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn N diện tích 120 m² đất ở và 180 m² đất trồng cây ở tại vị trí A, đường loại 2 tương đương với vị trí đất bị thu hồi trong khu dân cư (đường 13b thị trấn S) hoặc bồi thường bằng tiền: 120 m² (theo hạn mức) = 1.400.000.000 đ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng); 180 m² đất trồng cây = 2.100.000.000 đ - 225.000.000 đ (tiền chuyển đổi MĐ) = 1.875.000.000 đ (Một tỷ tám trăm bảy mươi lăm triệu đồng).
  • - Bồi thường thiệt hại trong thời gian không được sử dụng đất từ tháng 12 năm 2001 đến khi được bồi thường là khoảng 20, 5 năm: 20,5 x 40.000.000 đ/năm = 820.000.000 đồng (T2 trăm hai mươi triệu đồng).
  • - Bồi thường tiền đi khiếu kiện, tem thư, in ấn theo Luật bồi thường: (1.400.000 đ x 7 tháng) x 20,5 năm = 213.815.000 đ (Hai trăm mười ba triệu tám trăm mười lăm nghìn đồng).

Ngày 06/6/2023, ông Nguyễn Văn N có đơn đề nghị thay đổi và rút một phần yêu cầu khởi kiện. Ngày 14/6/2023, Tòa án nhân dân huyện S lập biên bản làm việc xác định rõ nội dung thay đổi và rút một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N. Nội dung thay đổi và rút một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N, cụ thể như sau:

  • - Về việc thay đổi yêu cầu khởi kiện: Ông Nguyễn Văn N xác định do UBND huyện S lấy đất của ông để phân lô bán nền là trái pháp luật, do vậy ông yêu cầu UBND huyện S phải trả lại cho ông 300m² đất tại khu vực đường 13b thuộc tổ dân phố Q, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn N. Do hiện tại diện tích đất nêu trên đã cấp cho người khác và xây dựng nhà cửa kiên cố, sử dụng ổn định nên ông N đề nghị trả lại giá trị quyền sử dụng đất cho ông bằng cách giao quyền sử dụng đất cho ông tương đương với vị trí đất bị thu hồi trong khu dân cư (đường 13b thị trấn S); Hoặc trả lại cho ông giá trị quyền sử dụng 300m² đất nêu trên tương đương 1.875.000.000 đ (Một tỷ tám trăm bảy mươi lăm triệu đồng).
  • - Về việc rút yêu cầu khởi kiện:
  • + Bồi thường thiệt hại trong thời gian không được sử dụng đất từ tháng 12 năm 2001 đến khi được bồi thường là khoảng 20,5 năm: 20,5 x 40.000.000 đ/năm = 820.000.000 đồng (T2 trăm hai mươi triệu đồng).
  • + Bồi thường tiền đi khiếu kiện, tem thư, in ấn theo Luật bồi thường: (1.400.000 đ x 7 tháng) x 20,5 năm = 213.815.000 đ (Hai trăm mười ba triệu tám trăm mười lăm nghìn đồng).

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông N xác định việc thu hồi đất của ông là do UBND huyện S thực hiện. Còn việc UBND tỉnh T ban hành quyết định thu hồi đối với khu dân cư Quyết Thắng như thế nào thì ông không được biết. Do vậy, ông xác định ông giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc UBND huyện S trả lại giá trị quyền sử dụng đất cho ông bằng cách giao quyền sử dụng đất cho ông tương đương với vị trí đất bị thu hồi trong khu dân cư (đường 13b thị trấn S); Hoặc trả lại cho ông giá trị quyền sử dụng 300m² đất nêu trên tương đương 1.875.000.000 đ (Một tỷ tám trăm bảy mươi lăm triệu đồng).

Về án phí, trường hợp ông N phải chịu án phí thì ông đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí theo quy định của pháp luật.

2. Bị đơn là UBND huyện S trình bày:

* Về diễn biến vụ việc:

  • - Nguồn gốc của thửa đất liên quan đến ông N đề nghị Tòa án giải quyết:
  • + Tại bản đồ giải thửa (đo vẽ năm 1990), do Ủy ban nhân dân thị trấn S quản lý, thửa đất ông N đề nghị Tòa án giải quyết thuộc thửa số 339, tờ bản đồ số 9, diện tích 100 m². Trong sổ mục kê số 01 kèm theo tờ bản đồ số 9, thửa số 339, được thể hiện tại trang số 124 loại đất chuyên dùng, chủ quản lý và sử dụng là Ủy ban nhân dân xã K (nay là UBND thị trấn S).
  • + Tại bản đồ địa chính (đo vẽ năm 1997), do phòng Địa chính huyện S quản lý, thửa đất ông N đề nghị Tòa án giải quyết thuộc thửa số 42, tờ bản đồ số 24, diện tích 304,1m². Trong sổ mục kê số 01 kèm theo tờ bản đồ số 24, thửa số 42 được thể hiện tại trang số 69, diện tích 304,1m², loại đất Giao thông, chủ quản lý và sử dụng là Ủy ban nhân dân thị trấn S.
  • + Tại hồ sơ thu hồi giao đất khu dân cư thôn Q, thị trấn S, kèm theo Quyết định số 2086/QĐ-UB ngày 17/12/2001 của ủy ban nhân dân tỉnh T thể hiện thửa đất liên quan đến thửa đất ông N đề nghị Tòa án giải quyết là thửa đất số 8, diện tích 150 m², loại đất hoang
  • - Ngày 18/01/2005 Ủy ban nhân dân huyện S nhận được đơn khiếu nại của ông N; với nội dung:
  • + Gia đình ông có một thửa đất có nguồn gốc tự khai phá, năm 1992 thu hồi làm đường 13B còn lại khoảng 100 m² sử dụng liên tục cho đến nay. Nếu căn cứ Luật Đất đai cũ hoặc mới thì thuộc diện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất.
  • + Năm 2001, thu hồi đất xây dựng khu dân cư thôn Q, gia đình ông không nhận được thông báo nào của huyện. Khi nghe được tin đất của ông nằm trong quy hoạch khu dân cư gia đình ông có đề nghị được đền bù đất và hoa màu đồng thời đề nghị xin được giao 1 lô đất làm nhà ở nhưng không nhận được trả lời của huyện.

* Về kết quả giải quyết:

  • - Ngày 04/4/2005 Ủy ban nhân dân huyện đã ban hành Văn bản số 282/UB-KTHT về việc trả lời đơn khiếu nại của công dân:

Căn cứ Khoản 1 Điều 2, Luật Đất đai năm 1993 hoặc Điều 49, Điều 50, Luật Đất đai năm 2003 thì ông không thuộc diện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích đất nêu trên; vì vậy, đề nghị của ông về việc: “Hợp lý hóa thửa đất nêu trên cho gia đình vào mục đích đất ở”, không được UBND huyện giải quyết;

Căn cứ Điều 6, Điều 16, Nghị định số 22/1998/NĐ-CP của Chính Phủ thì ông không là đối tượng được bồi thường thiệt hại. Vì vậy, đề nghị của ông về việc: “Bồi thường thiệt hại do việc cưỡng chế thu hồi tài sản trái pháp luật” không được UBND huyện giải quyết.

Ngày 08/4/2005 ông N tiếp tục có đơn khiếu nại nội dung Văn bản số: 282/UB-KTHT về việc trả lời đơn khiếu nại của công dân.

  • - Ngày 10/5/2005 Ủy ban nhân dân huyện đã ban hành Quyết định số: 930/QĐ-CT “về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Nguyễn Văn N, thôn Q, thị trấn S, huyện S":

Bác nội dung đơn khiếu nại ngày 08/4/2005 của ông Nguyễn Văn N, thôn Q, thị trấn S, huyện S và giữ nguyên nội dung Công văn số 282/UB-KTHT ngày 04/4/2005 của Ủy ban nhân huyện S; lý do: “Không có căn cứ pháp lý theo quy định của Luật Đất đai hiện hành để chứng minh ông Nguyễn Văn N là chủ sử dụng thửa đất mà ông khiếu nại”.

Sau đó ông N đã khởi kiện vụ việc đến Tòa án nhân dân huyện S thụ lý số 01/2005/HCST ngày 03/6/2005.

Ngày 01/9/2005 Tòa án nhân dân huyện S đã ban hành Quyết định số 01/2005/QĐHC-ST về việc đình chỉ vụ án.

Tòa án nhân dân huyện S quyết định “Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính đã thụ lý số: 01/2005/HCST ngày 03/6/2005. Về việc “Kiện Quyết định trả lời khiếu nại số 930/QĐ-CT ngày 10/5/2005 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang”.

Sau đó ông N kháng cáo vụ việc đến Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.

Ngày 10/10/2005 Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã ban hành Quyết định số 01/QĐ/TT-HC về việc không chấp nhận kháng cáo

Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang với Hội đồng xét xử phúc thẩm Quyết định “Áp dụng: Điều 64 khoản 2 điểm a pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án Hành chính: Bác kháng cáo của ông Nguyễn Văn N, giữ nguyên quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án số 01/2005/QĐHC-ST ngày 03/6/2005 của Tòa án nhân dân huyện S".

* Về quan điểm của Ủy ban nhân dân huyện S:

Về công tác thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng công trình khu dân cư thôn Q, thị trấn S, huyện S: Đã được Hội đồng bồi thường của huyện thực hiện theo đúng quy định.

Các ý kiến vướng mắc liên quan đến việc thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng xây dựng khu dân cư thôn Q, thị trấn S, huyện S của một số hộ gia đình (trong đó có hộ gia đình ông Nguyễn Văn N) đã được Ủy ban nhân dân huyện S xem xét giải quyết theo đúng quy định.

Do vậy Ủy ban nhân dân huyện S không nhất trí đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N, tổ dân phố Q, thị trấn S, huyện S.

3. Người làm chứng: Ông Vũ Duy L, ông Lê Văn P, ông Đỗ Văn V1, ông Trần Văn V, ông Nguyễn Tiến D, bà Bùi Thị H, bà Trần Thị R, bà Nguyễn Thị N1 đều trình bày: Khoảng năm 1980 có thấy gia đình ông N sử dụng diện tích đất đang tranh chấp để trồng chuối và gieo mạ. Tuy nhiên những người làm chứng không biết nguồn gốc diện tích đất đó là của ai, không được chứng kiến việc gia đình ông N khai phá ra diện tích đất đó. Đối với nội dung xác nhận tại giấy xin xác nhận của các nhân chứng đề ngày 18/01/2005; đơn xin xác nhận nguồn gốc sử dụng đất đề ngày 01/02/2005 những người làm chứng Vũ Duy L, Lê Văn P, Đỗ Văn V1, Trần Văn V, Nguyễn Tiến D, Bùi Thị H, Trần Thị R, Nguyễn Thị N1 đều xác định chỉ xác nhận về việc có thấy ông N sử dụng đất chứ không xác nhận về nguồn gốc đất là của ông N.

4. Người làm chứng ông Đặng Trung T1 trình bày: Ông là cán bộ địa chính của Ủy ban nhân dân thị trấn S từ năm 1991 đến năm 1998. Ngày 18/01/2005, với tư cách là nguyên cán bộ địa chính của Ủy ban nhân dân thị trấn S ông có được xác nhận nội dung: “Công nhận nội dung trên của ông N là đúng sự thật vào “Giấy xin xác nhận của các nhân chứng đề ngày 18/01/2005”. Ông T1 khẳng định ông chỉ xác nhận về nguồn gốc đất, còn các nội dung khác như chặt phá cây cối, diện tích cụ thể như ông N trình bày thì ông không nắm được.

5. Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân thị trấn S cho thấy: Tại bản đồ giải thửa đo vẽ năm 1990 thể hiện: thửa đất ông N đề nghị Tòa án giải quyết có diện tích 100m2 thuộc thửa số 339, tờ bản đồ số 9. Tại trang số 124 của sổ mục kê số 01 kèm theo tờ bản đồ số 9, thửa số 339 có diện tích 100m2, loại đất là đất chuyên dùng, chủ quản lý và sử dụng là Ủy ban nhân dân xã K (nay là UBND thị trấn S).

- Tại bản đồ địa chính đo vẽ năm 1997 thể hiện: Thửa đất ông N đề nghị Tòa án giải quyết có diện tích 304,1m2 thuộc thửa số 42, tờ bản đồ số 24. Tại trang số 69 của sổ mục kê số 01 kèm theo tờ bản đồ số 24, thửa số 42 có diện tích 304,1m2, loại đất Giao thông, chủ quản lý và sử dụng là Ủy ban nhân dân thị trấn S.

- Diện tích đất ông N đang yêu cầu giải quyết thể hiện trên bản đồ địa chính đo đạc năm 2012 là thửa số 42, tờ bản đồ 24, diện tích 304,1m2, loại đất Giao thông. Hiện tại toàn bộ thử số 42 là đường (13B) và vỉa hè.

6. Theo tài liệu do Sở Tài Nguyên môi trường tỉnh T cung cấp thì: Tại Danh sách các chủ có đất thu hồi kèm theo Quyết định số 2086/QĐ-UB ngày 07/12/2001 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc thu hồi và giao đất xây dựng khu dân cư thôn Q, thị trấn S, huyện S có 10 chủ sử dụng đất nhưng không có tên ông Nguyễn Văn N. Biên bản họp xét đền bù khu dân cư thôn Q, thị trấn S (đoạn từ phòng Lao động thương binh xã hội đến nhà bà D1); Biên bản họp xét của hội đồng tư vấn cấp đất khu dân cư thôn Q, thị trấn S, huyện S cũng không có tên hộ ông Nguyễn Văn N.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST, ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang, quyết định:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 217, 227, 228, 229, 235, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 9, 36 của Luật Đất đai năm 1987; các Điều 13; 28; 32; 38; 58 của Luật Đất đai năm 1993; các Điều 4, 10, 13, 16, 21, 22, 23, 66, 95, 155 của Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Toà án.

* Tuyên xử:

1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N về “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm” đối với Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Cụ thể: Buộc UBND huyện S bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm: Bồi thường thiệt hại trong thời gian không được sử dụng đất từ tháng 12 năm 2001 đến khi được bồi thường là khoảng 20,5 năm: 20,5 x 40.000.000 đ/năm = 820.000.000 đồng (Tám trăm hai mươi triệu đồng); Bồi thường tiền đi khiếu kiện, tem thư, in ấn theo Luật bồi thường: (1.400.000 đ x 7 tháng) x 20,5 năm = 213.815.000 đ (Hai trăm mười ba triệu tám trăm mười lăm nghìn đồng).

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N về “Tranh chấp về đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” đối với Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Cụ thể:

- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N buộc Ủy ban nhân dân huyện S phải trả lại diện tích đất tương đương thửa đất số 42, tờ bản đồ 24, diện tích 304,1m² theo bản đồ địa chính đo vẽ năm 2012 (theo bản đồ giải thửa đo vẽ năm 1990 là thửa đất số 339, tờ bản đồ số 9; theo bản đồ địa chính đo vẽ năm 1997 là thửa số 42, tờ bản đồ số 24, diện tích 304,1m²); địa chỉ thửa đất tại tổ dân phố Q, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, bằng cách giao quyền sử dụng đất cho ông N tương đương với vị trí đất bị thu hồi trong khu dân cư (đường 13b thị trấn S); Hoặc trả lại cho ông N giá trị quyền sử dụng 300m² đất tương đương 1.875.000.000 đ (Một tỷ tám trăm bảy mươi lăm triệu đồng).

Ngoài ra bản án còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, về quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 06/02/2024 ông Nguyễn Văn N kháng cáo bản án số 02 ngày 31/01/2024 của Toà án nhân dân huyện S, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm nêu trên theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N, cụ thể như sau: Do Ủy ban nhân dân huyện S lấy đất của ông N để phân lô bán nền là trái pháp luật, nên đề nghị cấp phúc thẩm buộc Ủy ban nhân dân huyện S trả lại cho ông N diện tích đất 304,1 m², vị trí đất tại khu vực đường 13b thuộc tổ Dân phố Q, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang thuộc quyền sử dụng của ông N. Do hiện nay diện tích đất nêu trên đã cấp cho người khác và xây dựng nhà kiên cố, sử dụng ổn định nên ông N đề nghị trả lại giá trị quyền sử dụng đất cho ông N, bằng cách giao quyền sử dụng đất cho ông N tương đương với vị trí đất bị thu hồi trong khu dân cư (đường 13b thị trấn S Hoặc trả lại cho ông N giá trị quyền sử dụng đất 304,1 m², nêu trên tương đương 1.875.000.000 đ (Một tỷ tám trăm bảy mươi lăm triệu đồng).

Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn N vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo như đã trình bày nêu trên.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn N là hợp lệ trong hạn luật định, nội dung kháng cáo nằm trong nội dung bản án sơ thẩm.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn N, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện S.

Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn N là người cao tuổi nên ông N được miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Ngày 06/02/2024 ông Nguyễn Văn N kháng cáo bản án số 02 ngày 31/01/2024 của Toà án nhân dân huyện S, Đơn kháng cáo được thực hiện trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo và quyền kháng cáo phù hợp với quy định của pháp luật, nên đơn kháng cáo hợp lệ.

[2]. Về nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Văn N đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự số 02 ngày 31/01/2024 của Toà án nhân dân huyện S theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N. Buộc UBND huyện S trả lại cho ông N diện tích đất 304,1 m², tại khu vực đường 13b thuộc tổ Dân phố Q, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, thuộc quyền sử dụng của ông N, do đất đã cấp cho người khác, nên ông đề nghị giao quyền sử dụng đất cho ông N, tương đương vị trí đất bị thu hồi, hoặc trả lại giá trị quyền sử dụng đất 304,1 m², tương đương số tiền 1.875.000.000 đ. Hội đồng xét xử thấy:

Ông Nguyễn Văn N cho rằng diện tích đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông N và có nguồn gốc do ông N khai phá, nhưng ông N không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền sử dụng diện tích đất là của ông. Mặt khác, diện tích đất ông N yêu cầu giải quyết được thể hiện trên tất cả các tài liệu như sổ mục kê, bản đồ địa chính đo vẽ năm 1990, 1997, 2012 có chủ sử dụng đất là Ủy ban nhân dân thị trấn S (trước đó là UBND xã K); Loại đất chuyên dùng, đến năm 1997 và 2012 xác định là loại đất giao thông. Quá trình xác minh tại địa phương cũng xác định không có hộ gia đình, cá nhân nào đăng ký kê khai cấp quyền sử dụng đất đối với diện tích đất nêu trên. Tuy có lời khai của những người làm chứng xác định có được thấy ông N trồng chuối, gieo mạ nhưng những người làm chứng Nguyễn Thị N1, Nguyễn Tiến D, Vũ Duy L, Trần Thị R, Bùi Thị H, Trần Văn V, Lê Văn P đều xác định không biết nguồn gốc diện tích đó là của ai, không được chứng kiến việc gia đình ông N khai phá, chỉ thấy gia đình ông N có trồng chuối và gieo mạ tại diện tích đất nêu trên. Đối với biên lai thu thuế sử dụng đất số 040117 đề ngày 28/5/2003 và số 048875 đề ngày 14/6/2001 do ông N giao nộp không thể hiện thông tin cụ thể về thửa đất phải nộp thuế nên không có căn cứ khẳng định 02 biên lai nêu trên là nộp thuế của thửa đất tranh chấp. Do vậy, không có đủ cơ sở khẳng định diện tích đất nêu trên là do gia đình ông N khai phá.

Tại Danh sách các chủ sử dụng đất bị thu hồi kèm theo Quyết định số 2086/QĐ-UB ngày 07/12/2001 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc thu hồi và giao đất xây dựng khu dân cư thôn Q, thị trấn S, huyện S có 10 chủ sử dụng đất nhưng không có tên ông Nguyễn Văn N. Biên bản họp xét đền bù khu dân cư thôn Q, thị trấn S (đoạn từ Phòng Lao động thương binh xã hội huyện S đến nhà bà D1); Biên bản họp xét của Hội đồng tư vấn cấp đất khu dân cư thôn Q, thị trấn S, huyện S cũng không có tên hộ ông Nguyễn Văn N (được thể hiện tại các bút lục số 57; 59; 60; 66; 67; 68; 69; 71; 72; 81; 83; 84).

Do vậy, không có căn cứ xác định Ủy ban nhân dân huyện S thu hồi thửa đất số 42, tờ bản đồ 24, diện tích 304,1m² theo bản đồ địa chính đo vẽ năm 2012 (theo bản đồ giải thửa đo vẽ năm 1990, thửa đất số 339, tờ bản đồ số 9; theo bản đồ địa chính đo vẽ năm 1997, thửa đất số 42, tờ bản đồ số 24, diện tích 304,1m²); địa chỉ thửa đất tại tổ dân phố Q, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, là diện tích đất của ông Nguyễn Văn N.

Từ những đánh giá nêu trên. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn N. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST, ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang, như ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phúc thẩm.

[3]. Về án phí: Do ông Nguyễn Văn N là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ an phí dân sự phúc thẩm.

[4]. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn N về việc đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự số 02 ngày 31/01/2024 của Toà án nhân dân huyện S theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N.

- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST, ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang, như sau:

  • - Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm” đối với Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Cụ thể: Buộc Ủy ban nhân dân huyện S bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm: Bồi thường thiệt hại trong thời gian không được sử dụng đất từ tháng 12 năm 2001 đến khi được bồi thường là khoảng 20,5 năm: 20,5 x 40.000.000 đ/năm = 820.000.000 đồng (Tám trăm hai mươi triệu đồng); Bồi thường tiền đi khiếu kiện, tem thư, in ấn theo Luật bồi thường: (1.400.000 đ x 7 tháng) x 20,5 năm = 213.815.000 đ (Hai trăm mười ba triệu tám trăm mười lăm nghìn đồng).
  • - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N về việc yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang trả lại diện tích đất tương đương thửa đất số 42, tờ bản đồ 24, diện tích 304,1m² theo bản đồ địa chính đo vẽ năm 2012 (theo bản đồ giải thửa đo vẽ năm 1990, thửa đất số 339, tờ bản đồ số 9; theo bản đồ địa chính đo vẽ năm 1997, thửa đất số 42, tờ bản đồ số 24, diện tích 304,1m²); địa chỉ thửa đất tại tổ dân phố Q, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, bằng cách giao quyền sử dụng đất cho ông N tương đương với vị trí đất bị thu hồi trong khu dân cư (đường 13b thị trấn S); Hoặc trả lại cho ông N giá trị quyền sử dụng 300m² đất tương đương số tiền 1.875.000.000 đ (Một tỷ tám trăm bảy mươi lăm triệu đồng).

Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn N là người cao tuổi nên ông N được miễn toàn bộ án phí phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (17/5/2024).

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - TAND huyện S;
  • - Chi cục THADS huyện S;
  • - Các đương sự;
  • - Văn phòng TA tỉnh;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đức Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/DS-PT ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG về kiện yêu cầu đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 46/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Kiện yêu cầu đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông N đề nghị UBND huyện S trả lại diện tích đất ông N cho rằng của gia đình ông N. TA không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N, Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger