TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2024/HS-ST Ngày 17-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Minh Nhì
Ông Võ Phước Cho
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 5 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Trần Thanh T, sinh ngày 03 tháng 2 năm 1985 tại A, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi cư trú: ấp I, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Trần Văn T1 và bà Tô Thị N; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang ngày 07/8/2023, tạm giữ ngày 08/8/2023, chuyển tạm giam ngày 16/8/2023 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Văn H, sinh ngày 30 tháng 4 năm 1989 tại X, Nam Định; CCCD số [...]; Nơi ĐKTT: xóm B, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; Nơi ở hiện tại: số I, Đoàn Thị Đ, khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Thanh H1 và bà Bùi Thị Thanh T2; vợ: Nguyễn Thùy D; con: có 03 người con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không; Về nhân thân: Ngày 24/3/2022 bị Công an thành phố P, tỉnh Kiên Giang xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại Quyết định
2
số 166/QĐ-XPHC; Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang ngày 07/8/2023, tạm giữ ngày 08/8/2023, chuyển tạm giam ngày 16/8/2023 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Hồ Văn Đ1, sinh năm 1997. Địa chỉ: ấp I, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có mặt);
- + Trần Văn T3, sinh năm 1982. Địa chỉ: ấp I, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, tại quán karaoke Phương A ở ấp G X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, có một số đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 07/8/2023, Công an huyện A kết hợp Công an xã Đ tiến hành kiểm tra và bắt quả tang 08 đối tượng đang sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng víp 1, quán K, các đối tượng bị bắt quả tang gồm: Trần Thanh T, Trần Ngọc T4, Trần Thị Cẩm G, Hồ Văn Đ1, Trần Văn T3, Võ Thị Bảo Y, Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị T5.
Quá trình bắt quả tang thu giữ trên bàn trong phòng: 01 (một) cái dĩa sành màu trắng, trong dĩa có một số chất bột màu trắng nghi là ma tuý; 01 (một) ống hút được quấn bằng 02 (hai) vỏ điếu thuốc “555” và tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng, 01 thẻ ATM tên LE TUAN ANH của ngân hàng B. Kiểm tra trên người Hồ Văn Đ1 phát hiện trong túi quần jean bên phải, phía trước, có 01 (một) gói nylon trong suốt có rãnh gài, viền màu đỏ, bên trong có 01 (một) viên nén màu đen nghi là ma túy. Kiểm tra trên cạnh tường gạch phía sau vị trí ngồi của Trần Văn T3 phát hiện 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong có 01 (một) gói nylon màu đen có rãnh gài, bên trong có 03 (ba) viên nén màu xanh, nghi là chất ma túy và 01 (một) gói nylon trong suốt có rãnh gài, viền màu đỏ, bên trong có nhiều hạt tinh thể màu trắng, nghi là chất ma túy. Cơ quan điều tra tiến hành tạm giữ số tang vật trên và đưa 08 đối tượng nêu trên về Cơ quan Công an để xác minh làm rõ.
Qua điều tra kết luận nội dung vụ án như sau: Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 07/8/2023, bị can Trần Thanh T gọi điện thoại cho Hồ Văn Đ1 rủ đi karaoke thì Đ1 đồng ý, bị can T chạy xe lại nhà của Đ1 để xe ở đó rồi Đ1 điều khiển xe của Đ1 chở T đến Thứ 7, thuộc ấp G, xã Đ, huyện A, ăn sáng rồi chạy đến quán karaoke Phương A. Đến quán bị can T và Đ1 vào phòng số 1, khi vào
3
phòng T gọi điện thoại cho Trần Văn T3 và kêu T3 chạy lại, khoảng 05 phút sau thì T3 và bị can Nguyễn Văn H đến, Đến có gọi 04 tiếp viên nữ vào phục vụ rót bia là Trần Ngọc T4, Trần Thị Cẩm G, Võ Thị Bảo Y và Nguyễn Thị T5. Khi vào phòng T lấy cái bọc nylon màu đen bên trong có chứa chất ma túy để lên bàn, khoảng 05 phút sau bị can H lấy gói nylon có chứa ma túy mà T mang theo và lấy trong đó ra 02 viên nén, màu xanh, bị can H bẻ 02 viên nén trên thành 04 phần rồi chia cho T, Đ1 và T3 mỗi người nửa viên để uống, tiếp đó bị can H lấy cái dĩa sành màu trắng đem ra ngoài nhà vệ sinh hơ nóng, H kêu bị can T đưa tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng rồi lấy ma túy là Ketamine trong gói nylon màu đen mà bị can T mang theo để lên tờ tiền 1.000 đồng, dùng bật lửa hơ nóng lên, sau đó đổ ra dĩa sành rồi dùng thẻ ATM cà mịn ra và kẻ thành nhiều đường, bị can H hỏi T3 có tờ tiền 10.000 đồng không (H không nói để làm gì), thì T3 lấy tiền trong túi quần ra đưa cho H, H rút lấy tờ tiền 10.000 đồng, H lấy 02 (hai) điếu thuốc “555” đổ hết phần thuốc ra rồi dùng tờ tiền 10.000 đồng quấn lại đút vào 02 vỏ điếu thuốc làm thành cái ống hút để hút ma túy. Bị can H cầm dĩa sành có chứa ma túy đưa qua cho T3, Đ1 và T lần lượt thay phiên nhau hút, tất cả cùng nhau vừa hát karaoke vừa sử dụng ma túy, một lúc sau thì lực lượng công an đến bắt. Tại Cơ quan điều tra bị can Trần Thanh T khai nhận nguồn gốc số ma túy trên là của Trần Văn T3 và bị can Nguyễn Văn H mang đến đưa cho T cất giữ vào chiều tối ngày 06/8/2023 để hôm sau đi karaoke sử dụng, nhưng bị can Nguyễn Văn H và Trần Văn T3 không thừa nhận.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Thanh T thừa nhận toàn bộ hành vi mang chất ma túy đến quán cho Nguyễn Văn H, Hồ Văn Đ1 và Trần Văn T3 cùng nhau sử dụng. Bị can Nguyễn Văn H thừa nhận hành vi giúp sức cho bị can T trong việc chuẩn bị dụng cụ, pha chế ma tuý và kẻ thành từng đường để cho bị can T, đối tượng Đ1 và T3 sử dụng.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã thu giữ các vật chứng sau:
Quá trình bắt quả tang thu giữ trên bàn trong phòng:
- - 01 (một) cái dĩa sành màu trắng, trong dĩa có một số chất bột màu trắng, nghi là chất ma túy; 01 (một) ống hút được quấn bằng 02 (hai) vỏ điếu thuốc “555” và tờ tiền polyme mệnh giá 10.000đ (mười nghìn đồng); 01 thẻ ATM tên LE TUAN ANH của ngân hàng B.
- - Kiểm tra trên cạnh tường gạch phía sau vị trí ngồi của Trần Văn T3 thu giữ 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong có 01 (một) gói nylon màu đen có rãnh gài, bên trong có 03 (ba) viên nén màu xanh, nghi là chất ma túy và 01
4
(một) gói nylon trong suốt có rãnh gài, viền màu đỏ, bên trong có nhiều hạt tinh thể màu trắng, nghi là chất ma túy.
- - Kiểm tra trên người Hồ Văn Đ1 tạm giữ 01 (một) gói nylon trong suốt có rãnh gài, viền màu đỏ, bên trong có 01 (một) viên nén màu đen, nghi là ma túy.
Kết quả trưng cầu giám định: Tại Bản kết luận giám định số: 847/KL-KTHS ngày 14/8/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh K kết luận:
- 1. Gói 1 (T6 trong dĩa trong phòng): chất bột màu trắng chứa bên trong 01 (một) gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy loại Ketamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 1,2547 gam.
- - Gói 2 (Thu trên người Hồ Văn Đ1): 01 (một) viên nén màu đen chứa bên trong 01 (một) gói nylon được niêm phong gửi giám định không phải là ma túy. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,2183 gam.
- - Gói 3 (T6 trên cạnh tường gạch trong phòng): 03 (ba) viên nén màu xanh chứa bên trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại MDMA. Khối lượng mẫu gửi giám định là 1,0896 gam. Nhiều hạt tinh thể màu trắng chứa bên trong 01 (một) gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 1,9762 gam.
Tại Bản kết luận giám định số: 852/KL-KTHS ngày 16/8/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh K kết luận: Trên các mẫu vật cần giám định có dấu vết đường vân bị mờ nhòe không đủ yếu tố giám định.
Tại Cáo trạng số 32/CT-VKS-AM ngày 28-3-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Trần Thanh Tuấn và Nguyễn Văn Hà về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- - Kiểm sát viên kết luận các bị cáo Trần Thanh T và Nguyễn Văn H phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và đề nghị: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh T và bị cáo Nguyễn Văn H mỗi bị cáo từ 07 đến 08 năm tù. Về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy theo quy định pháp luật.
- - Bị cáo trình bày: Bị cáo T và H thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu, không đối đáp, tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng các bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
5
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi phạm tội, tội danh:
[2.1] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 07/8/2023, tại phòng V quán K ở ấp G X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Trần Thanh T có hành vi cung cấp ma túy để bị cáo cùng với Nguyễn Văn H, Hồ Văn Đ1 và Trần Văn T3 cùng nhau sử dụng trong lúc hát Karaoke. Nguyễn Văn H có hành vi lấy gói nylon có chứa ma túy mà T mang theo và lấy trong đó ra 02 viên nén, màu xanh, chia thành 04 phần rồi chia cho T, Đ1 và T3 mỗi người nửa viên để uống, tiếp theo H lấy cái dĩa sành màu trắng đem ra ngoài nhà vệ sinh hơ nóng, lấy tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng của T đưa rồi lấy ma túy là Ketamine trong gói nylon màu đen mà T mang theo để lên tờ tiền 1.000 đồng, dùng bật lửa hơ nóng lên, sau đó đổ ra dĩa sành rồi dùng thẻ ATM cà mịn ra và kẻ thành nhiều đường, H tiếp tục lấy tờ tiền 10.000 đồng của T3 và lấy 02 (hai) điếu thuốc “555” đổ hết phần thuốc ra rồi dùng tờ tiền 10.000 đồng quấn lại đút vào 02 vỏ điếu thuốc làm thành ống hút để hút ma túy. Sau đó, H cầm dĩa sành có chứa ma túy đưa qua cho T3, Đ1 và T lần lượt thay phiên nhau hút, trong lúc đang sử dụng ma túy thì Công an phát hiện và bắt quả tang.
Theo Kết luận giám định chất bột màu trắng chứa bên trong 01 gói nylon thu trong dĩa trong phòng là ma túy loại Ketamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 1,2547 gam; 03 viên nén màu xanh chứa bên trong 01 bịch nylon thu trên cạnh tường gạch trong phòng là ma túy loại MDMA, khối lượng mẫu gửi giám định là 1,0896 gam; nhiều hạt tinh thể màu trắng chứa bên trong 01 gói nylon thu trên cạnh tường gạch trong phòng là ma túy loại Ketamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 1,9762 gam.
[2.2] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện khác; khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ ma túy là chất quản lý đặc biệt nhưng đã tổ chức sử dụng trái phép là phạm tội với lỗi cố ý. Các bị cáo phạm tội có tính
6
chất giản đơn, trong đó bị cáo T là người cung cấp ma túy để các bị cáo sử dụng; bị cáo H là người giúp sức, cụ thể là chuẩn bị dụng cụ, hơ nóng ma túy, sau đó đổ ra dĩa sành rồi dùng thẻ ATM cà mịn ra và kẻ thành nhiều đường rồi đưa ma túy cho T, Đ1, T3 thay phiên nhau sử dụng. Như vậy, hành vi của bị cáo T và H đã cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 255 Bộ Luật Hình sự.
[2.3] Bị cáo T đã có hành vi tổ chức cho bản thân các bị cáo cùng với 02 người khác là Đ1 và T3 sử dụng trái phép chất ma túy. Đây là tình tiết định khung hình phạt tăng nặng “phạm tội đối với 02 người trở lên” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo T và H phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng hành vi phạm tội là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội khác và bất bình trong nhân dân. Các bị cáo biết rõ tác hại của ma túy cũng như hậu quả và những hệ lụy của việc sử dụng chất ma túy để lại đối với sức khỏe, kinh tế của bản thân người sử dụng, gia đình và xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo thật nghiêm để có thời gian giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình, xã hội.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
[3.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng các bị cáo đã phạm tội rất nghiêm trọng có khung hình phạt từ 07 đến 15 năm tù, làm phức tạp thêm tình hình tệ nạn ma túy, gây bất ổn và gây dư luận không tốt ở địa phương nên cần phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định. Khi quyết định mức hình phạt thấy bị cáo đã ăn năn hối cải, các bị cáo mới phạm tội lần đầu nên chỉ cần xử phạt mức đầu khung hình phạt là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của các bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ
7
50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, HĐXX nhận thấy lẽ ra áp dụng hình phạt bổ sung để tăng tính răn đe. Tuy nhiên, nhận thấy các bị cáo có thu nhập thấp, không ổn định, phải thi hành hình phạt tù khó đảm bảo khả năng thi hành án nên không áp dụng đối với các bị cáo.
[5] Về vật chứng, đối với số ma túy và dụng cụ sử dụng là vật cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Về án phí, các bị cáo T và H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Đối với Trần Văn T3, Hồ Văn Đ1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện A đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính; ông Trương Quốc T7 là người được giao quản lý quán K nhưng để xảy ra việc sử dụng trái phép chất ma túy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện A đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Các bị cáo Trần Thanh T và Nguyễn Văn H phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh T 07 (bảy) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt theo biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 07/8/2023.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 07 (bảy) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt theo biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 07/8/2023.
- Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng.
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) phong bì được niêm phong, có ký hiệu vụ số: 847/2023/Gói 1, có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh T8, người chứng kiến niêm phong Trần Nhựt Huynh và hình dấu tròn của Phòng K1 - Công an tỉnh K (bên trong chứa 1,1982 gam Ketamine còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu).
- - 01 (một) phong bì được niêm phong, có ký hiệu vụ số: 847/2023/Gói 2, có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh T8, người chứng kiến niêm phong
8
Trần Nhựt Huynh và hình dấu tròn của Phòng K1 - Công an tỉnh K (bên trong chứa bao gói đựng mẫu).
- - 01 (một) phong bì được niêm phong, có ký hiệu vụ số: 847/2023/Gói 3, có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh T8, người chứng kiến niêm phong Trần Nhựt Huynh và hình dấu tròn của Phòng K1 - Công an tỉnh K (bên trong chứa 0,9039 gam MDMA và 1,8895 gam Ketamine còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu).
- - 01 (một) cái dĩa sành màu trắng; 01 (một) thẻ ATM tên LE TUAN ANH của ngân hàng B; 01 (một) ống hút được làm bằng 02 (hai) vỏ điếu thuốc “555” và tờ tiền Polyme mệnh giá 10.000đ (mười nghìn đồng), không còn giá trị sử dụng; 01 (một) miếng giấy màu trắng.
(Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 15/QĐ-VKS-AM ngày 28-3-2024 của VKSND huyện An Minh).
- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Trần Thanh T và Nguyễn Văn H mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 17-5-2024)./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 46/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRần Thanh T và Nguyễn Văn H phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép ma túy
