trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẬU GIANG

Bản án số: 46/2024/HS-ST

Ngày 16 - 12 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thái Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Kiều Văn Thọ;
2. Bà Lê Kim Thuỷ;
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nhật Anh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 43/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:

Hồ Lê Huy T, sinh ngày 20/01/1978; tại quận N, thành phố Cần Thơ; nơi cư trú: ấp N, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn H (chết) và bà Lê Thị Thùy V (chết); có vợ là Phan Thị Thanh H1 và 03 người con (lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2021); tiền sự: không; tiền án: không; nhân thân: ngày 18/6/2007 bị Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/12/2008, đã chấp hành xong bản án (xóa án tích); ngày 20/6/2011 bị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xử phạt 03 năm tù về tội Cướp giật tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/4/2014, đã chấp hành xong bản án (xóa án tích); ngày 09/11/2017 bị Phòng Cảnh sát kinh tế Công an thành phố C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 4.000.000 đồng về hành vi kinh doanh hàng hóa nhập lậu thuốc lá điếu; đã chấp hành xong quyết định ngày 21/11/2017 (được coi là chưa có tiền sự); bị bắt tạm giữ từ ngày 07/02/2024 đến ngày 16/02/2024 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt.

- Người bào chữa của bị cáo T: Ông Võ Phước L. Là Luật sư Văn phòng luật sư Nguyễn T1- HG, Đoàn luật sư tỉnh Hậu Giang; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn D, sinh năm 1996. Nơi cư trú: ấp N, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 14 giờ 40 phút ngày 07/02/2024, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh H phối hợp Công an huyện C, Công an thị trấn B phát hiện bắt quả tang bị cáo Hồ Lê Huy T (viết tắt bị cáo) đang thực hiện hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy từ thành phố Cần Thơ đến ấp T, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

Qua kiểm tra phát hiện những đồ vật, tài liệu sau:

  • 01 (một) bịch nylon màu trắng (kiểu quai xách) bên trong có chứa 04 bịch nylon màu trắng có đầu kẹp kéo, viền màu đỏ bên trong mỗi bịch có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma tuý (được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu PS3, số 1902548).
  • Tiền Việt Nam: 1.000.000đ (một triệu đồng)
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung loại Galaxy J2 Prime, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bể kính màn hình;
  • 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 60K7- 0851 (đã qua sử dụng);
  • 01 (một) đôi ủng, màu xanh (đã qua sử dụng).

Qua làm việc bị cáo Hồ Lê Huy T thừa nhận các chất tinh thể thu giữ khi bị bắt quả tang là ma túy đá do đối tượng tên Dương ngụ gần nhà thuê T vận chuyển từ huyện P, thành phố Cần Thơ đến thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang để giao cho 01 người tên Chú S (không rõ nhân thân) tại thị trấn B với giá tiền công là 300.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo tại ấp N, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ. Quá trình khám xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ được các đồ vật, tài liệu sau:

  • 01 cái nỏ thủy tinh bên trong có chứa tinh thể nghi là ma túy (được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu PS3, số 1902549);
  • 01 bịch nylong dạng kẹp kéo 01 đầu có viền màu đỏ bên trong chứa tinh thể nghi là ma tuý (được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu PS3, số 1902550);
  • 01 (một) chai nhựa (loại chai nước tăng lực), trên nút chai có gắn ống hút nhựa màu trắng;
  • 01 (một) cái ống quẹt gas tự chế (tiêm lửa); 01 đoạn ồng hút nhựa màu trắng hàn kín một đầu tất cả để trong 01 ly thủy tinh;
  • 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng.
  • Tiền Việt Nam 2.000.000đ (hai triệu đồng).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn D, sinh năm 1996 ngụ ấp N, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ. Quá trình khám xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ được các đồ vật, tài liệu sau:

  • 01 (một) bộ sử dụng ma túy gồm: 01 đoạn ồng hút, 01 đoạn thủy tinh được gắn vào nắp chai nhựa;
  • 01 (một) bật lửa màu vàng;
  • 115 bịch nylon dạng kẹp một đầu (bên trong rỗng);
  • 01 (một) cuộn băng keo màu vàng.

Quá trình điều tra chứng minh được bị cáo có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy. Cụ thể như sau:

Đối với hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy:

Bị cáo Hồ Lê Huy T là người nghiện ma túy, đầu tháng 2/2024 có một người đàn ông quen biết với bị cáo trước đây tên D (không rõ nhân thân) thuê bị cáo vận chuyển ma túy từ thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ đến ấp T, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), bị cáo đồng ý. Do đó, trong khoảng thời gian từ đầu tháng 02/2024 đến ngày bị bắt quả tang bị cáo đã vận chuyển trái phép chất ma tuý cho người đàn ông tên D được 02 lần, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: khoảng hơn 07 ngày trước khi bị bắt quả tang (ngày 01/02/2024) D đến nhà của bị cáo tại ấp N, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ và đưa cho bị cáo một một gói nylong được quấn băng keo màu vàng, bên trong có chứa ma túy dạng “đá” nhưng không rõ số lượng bao nhiêu để bị cáo đi giao cho “Chú S” tại ấp T, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang với giá là 300.000 đồng. Sau khi nhận ma túy từ D thì bị cáo bỏ bịch ma túy vào túi áo đang mặc điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 60K7-0851 (xe của một người bạn không rõ nhân thân) chạy đến quán cafe “T" thuộc ấp T, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang giao số ma túy trên cho người đàn ông tên “Chú S”. Sau khi giao ma túy, “Chú S” đưa cho bị cáo tiền (không rõ số lượng bao nhiêu) và nửa con gà để bị cáo mang về. Khi về đến nhà thì bị cáo điện thoại cho D đến nhận tiền, tại đây D lấy tiền và đưa cho bị cáo 300.000 đồng tiền công vận chuyển. Lần vận chuyển này, bị cáo không biết rõ số lượng ma túy mà mình vận chuyển là bao nhiêu. Tiền công có được từ vận chuyển ma túy, bị cáo tiêu xài cá nhân hết.

Lần thứ 2: khoảng 11 giờ ngày 07/02/2024 người đàn ông tên D tiếp tục đến nhà bị cáo, đưa cho bị cáo một bịch bên trong có chứa chất ma túy “đá” (không rõ trọng lượng). Sau khi nhận ma túy từ D, bị cáo lấy một ít bỏ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy (nỏ thủy tinh) để sử dụng. Bị cáo hít 02 đến 03 hơi rồi đem cất vào trong bếp, D ra về còn bị cáo đi cắt cỏ cho bò ăn. Khoảng 30 phút sau, bị cáo nhận được cuộc gọi đến của D hẹn bị cáo tại khu vực cầu R thuộc thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ để lấy ma túy (hàng đá) đi giao cho “chú S” tại ấp T, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang như lần trước và bị cáo đồng ý. Lúc này bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 60K7-0851 đến khu vực cầu R để nhận ma túy từ D. Khi đến nơi thì bị cáo thấy Dương đợi sẵn và đưa cho bị cáo một bịch nylon được quấn băng keo màu vàng bên ngoài. Khi gặp nhau D không nói rõ số lượng ma túy bên trong là bao nhiêu, chỉ nói là hàng đá nên bị cáo bỏ gói ma túy vào bên trong chiếc giày bên trái (giày dạng ủng) đang mang rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 60K7-0851 đến ấp T, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang để giao ma túy. Khi gần đến địa bàn Châu Thành A thì bị cáo dùng điện thoại di động của mình gọi vào số điện thoại 0768.832.xxx của “Chú Sáu” hẹn gặp mặt tại “chỗ cũ” (quán cafe “T" thuộc ấp T, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang) để giao ma túy. Khi vừa đến trước cửa quán, bị cáo bị lực lượng Công an tiến hành kiểm tra bắt quả tang.

Tại Kết luận giám định số 72/KL-KTHS ngày 15/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận:

“Mẫu ký hiệu M1: Tinh thể trong suốt chứa trong 04 (bốn) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 34,20611 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vận chuyển trái phép chất ma tuý của mình.

Đối với hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy:

Quá trình điều tra chứng minh được, vào ngày bị bắt quả tang (khoảng 11 giờ ngày 07/02/2024) bị cáo T có nhận từ người đàn ông tên D một bịch nylon bên trong có chứa chất ma túy đá (không rõ trọng lượng) để sử dụng. Sau khi nhận số ma túy trên từ D thì bị cáo trích ra một ít bỏ vào nỏ thủy tinh để sử dụng, bị cáo hít từ 02-03 hơi. Sau khi sử dụng ma túy xong, bị cáo cất giấu số ma túy còn lại cùng cái nỏ thủy tinh đã qua sử dụng vào kẹt tủ chén trong nhà bếp mục đích để tiếp tục sử dụng. Đến trưa cùng ngày sau khi nhận ma túy từ D để đi giao tại thị trấn B, tỉnh Hậu Giang và bị bắt quả tang. Quá trình bắt quả tang và khám xét chỗ ở của bị cáo đang sinh sống tại ấp N, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ đã thu giữ toàn bộ số ma túy trên.

Tại Kết luận giám định số 72/KL-KTHS ngày 15/02/2024 của Phòng K1 công an tỉnh H kết luận:

“………Mẫu ký hiệu M2: Tinh thể chứa trong 01 (một) dụng cụ thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,12116 gam, loại Methamphetamine.

- Mẫu ký hiệu M3: Tinh thể trong suốt chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 0,37968 gam, loại Methamphetamine”.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IC, STT 247; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Quá trình điều tra bị cáo thừa nhận toàn bộ số ma túy bị thu giữ tại chỗ ở có tổng khối lượng là 0,50084 gram, loại Methamphetamine là ma túy đá cất giấu nhằm mục đích để tiếp tục sử dụng.

Tại Kết luận số 278/2024/KLGĐ ngày 26/7/2024 của Trung tâm P kết luận:

“Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội (ngày 07/02/2024) và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, do biến đổi nhân cách mức độ vừa”. Ngày 26/7/2024 Trung tâm P ban hành Công văn số 278.0/PYTTTNB nêu ý kiến như sau:

“Về trách nhiệm hình sự: Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội (ngày 07/02/2024) và hiện tại: Đương sự có năng lực trách nhiệm hình sự”.

Việc thu giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:

- Thu giữ của bị cáo Hồ Lê Huy T:

  • Vỏ bao được niêm phong có dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 và chữ ký ghi tên Đặng Thị Phương L1 (người chứng kiến) và Nguyễn Hoàng K (người niêm phong) - Phong bì niêm phong số 72/2024 bên trong có chứa: Tinh thể còn lại sau khi giám định và 01 cái nỏ thủy tinh.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung loại Galaxy J2 Prime, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng bị bể kính màn hình;
  • 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 60K7-0851 (đã qua sử dụng);
  • 01 (một) đôi ủng, màu xanh (đã qua sử dụng).
  • 01 (một) chai nhựa (loại chai nước tăng lực), trên nút chai có gắn ống hút nhựa màu trắng;
  • 01 (một) cái ống quẹt gas tự chế (tiêm lửa); 01 đoạn ồng hút nhựa màu trắng hàn kín một đầu tất cả để trong 01 ly thủy tinh;
  • 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng
  • Tiền Việt Nam: 3.000.000đ (ba triệu đồng)

- Thu giữ của Nguyễn Văn D:

  • 01 (một) bộ sử dụng ma túy gồm: 01 đoạn ồng hút, 01 đoạn thủy tinh được gắn vào nắp chai nhựa;
  • 01 (một) bật lửa màu vàng;
  • 115 bịch nylong dạng kẹp một đầu (bên trong rỗng);
  • 01 (một) cuộn băng keo màu vàng.

Tại Cáo trạng số 33/CT-VKSHG-P1 ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Hồ Lê Huy T về tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 250 và tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (viết tắt Bộ luật Hình sự).

Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: tuyên bố bị cáo Hồ Lê Huy T phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý và tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 250 Bộ luật hình sự; điểm s, q khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Hồ Lê Huy T từ 15 năm tù, về tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự; điểm s, q khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hồ Lê Huy T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Về vật chứng, đề nghị:

- Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung loại Galaxy J2 Prime, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng bị bể kính màn hình. 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 60K7-0851 (đã qua sử dụng).

Hoàn trả lại cho bị cáo T: Tiền Việt Nam 3.000.000đ (ba triệu đồng).

Các vật chứng còn lại đề nghị tịch thu tiêu huỷ.

Phát biểu tự bào chữa, bị cáo không bào chữa.

Phát biểu bào chữa cho bị cáo T, người bào chữa nêu quan điểm: thống nhất tội danh cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Về mức hình phạt, Kiểm sát viên đề nghị có phần nghiêm khắc. Bị cáo bị bệnh, bị hạn chế khả năng nhận thức điều khiển hành vi, nên bị người khác dẫn dụ. Bị cáo không nhận thức được tính nghiêm trọng của hành vi phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Đề nghị xem xét áp dụng cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà, nên không có lời khai.

Phát biểu đối đáp: không.

Nói lời sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, để sớm về chung sống với các con của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Xét người vắng mặt đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của người này tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng vẫn tiến hành xét xử.

[3]. Về tội danh: tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Xét lời thừa nhận của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: ngày 07/02/2024 có người đàn ông tên D đến nhà đưa cho bị cáo một bịch ma túy đá, bị cáo lấy một ít bỏ vào bộ dụng cụ để sử dụng, còn một ít đem cất giấu. Khoảng 30 phút sau, nhận điện thoại bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 60K7-0851 đến khu vực cầu R để nhận ma túy từ D đem giao như thoả thuận trước đó. Khi gặp, D đưa cho bị cáo một gói ma tuý, bị cáo lấy bỏ vào bên trong chiếc giày bên trái (giày dạng ủng) rồi điều khiển xe biển kiểm soát 60K7-0851 đến ấp T, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang giao cho Chú S. Khi vừa đến trước cửa quán chưa giao được, thì bị lực lượng Công an tiến hành kiểm tra bắt quả tang.

Tại Kết luận giám định số 72/KL-KTHS ngày 15/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận:

“Mẫu ký hiệu M1 (thu giữ khi bắt quả tang): Tinh thể trong suốt chứa trong 04 (bốn) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 34,20611 gam, loại Methamphetamine.

- Mẫu ký hiệu M2: Tinh thể chứa trong 01 (một) dụng cụ thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,12116 gam, loại Methamphetamine.

- Mẫu ký hiệu M3: Tinh thể trong suốt chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,37968 gam, loại Methamphetamine".

[3.1]. Xét thấy, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được ma tuý là chất cấm, bị cáo vận chuyển, tàng trữ không được cho phép của cơ quan có thẩm quyền là vi phạm pháp luật. Nhưng để nhận được tiền công của người thuê và có ma tuý sử dụng, bị cáo vẫn thực hiện. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý và tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý như cáo trạng truy tố.

[4]. Về khung hình phạt:

[4.1]. Đối với tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý. Bị cáo vận chuyển trái phép chất ma tuý khối lượng 34,20611 gam Methamphetamine, là thuộc trường hợp vận chuyển có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam, nên phải chịu tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 250 của Bộ luật Hình sự.

[4.2]. Đối với tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Bị cáo tàng trữ khối lượng 0,50084 gam Methamphetamine, là thuộc trường hợp tàng trữ có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam, nên phải chịu tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[5]. Xét tính chất của vụ án và hậu quả gây ra

[5.1]. Tính chất của vụ án. Vụ án có một bị cáo tự mình thực hiện hành vi phạm tội, ngoài ra còn đối tượng tên D bị cáo khai thuê vận chuyển, Cơ quan điều tra chưa làm rõ được nhân thân và hành vi phạm tội nên chưa đề cập xử lý. Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự an ninh, an toàn xã hội.

[5.2]. Hậu quả. Bị cáo nhận thức được vật được thuê vận chuyển là ma tuý, là chất cấm, Nhà nước không cho phép lưu hành bên ngoài, nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân bị cáo vẫn thực hiện, do đó hành vi phạm tội của bị cáo được thể hiện với lỗi cố ý. Hành vi vận chuyển số lượng lớn ma túy của bị cáo lần này nếu không phát hiện kịp thời, được lưu hành ra bên ngoài thì có thể gây ra hậu quả khôn lường cho người sử dụng và cho xã hội, nên cần phải được xử lý bằng hình phạt nghiêm khắc, đủ để răn đe giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung loại tội phạm này.

[6]. Xét nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần vi phạm pháp luật, trong đó có lần bị xử lý liên quan đến ma tuý; nghề nghiệp không ổn định, hiện tại không có nghề nghiệp; hoàn cảnh kinh tế gia đình thuộc diện khó khăn ở địa phương.

[7]. Tình tiết tăng nặng: Bị cáo khai ngoài lần bị bắt quả tang, trước đó bị cáo đã vận chuyển trái phép ma tuý thuê cho ông D. Xét, ngoài lời khai của bị cáo không có chứng cứ nào khác để chứng minh việc này, nên trong lần xét xử này Toà xác định bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[8]. Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đang bị bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức điều khiển hành vi, nên xem xét áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, q khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[9]. Cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ. Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội trong khung xét xử.

[10]. Về đề nghị của Kiểm sát viên, người bào chữa.

[10.1]. Đối với đề nghị của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s, q khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[10.2]. Đối với đề nghị của người bào chữa. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, q khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Chấp nhận đề nghị áp dụng cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nghẹ nhất trong khung truy tố.

[11]. Về trách nhiệm dân sự: không có, nên không xem xét.

[12]. Về đồ vật thu giữ trong vụ án:

Đồ vật nào bị thu giữ trong vụ án có liên quan đến tội phạm không còn giá trị thì tịch thu tiêu huỷ; đồ vật nào còn giá trị sử dụng thì tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước; đồ vật nào không liên quan đến tội phạm thì hoàn trả lại cho chủ sở hữu.

[13]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 268, 269, 292, 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Lê Huy T phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý và tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 250; Điều 38; điểm s, q khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hồ Lê Huy T 15 (mười lăm) năm tù, về tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s, q khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hồ Lê Huy T 01 (một) năm tù, về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành là 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn tính từ ngày bị bắt ngày 07/02/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo T 45 ngày để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam tính từ ngày 16/12/2024.

2. Về đồ vật đã thu giữ: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự.

2.1. Tịch thu tiêu huỷ:

  • Vỏ bao được niêm phong có dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 và chữ ký ghi tên Đặng Thị Phương L1 (người chứng kiến) và Nguyễn Hoàng K (người niêm phong) - Phong bì niêm phong số 72/2024 bên trong có chứa: Tinh thể còn lại sau khi giám định và 01 cái nỏ thủy tinh.
  • 01 (một) đôi ủng, màu xanh (đã qua sử dụng).
  • 01 (một) chai nhựa (loại chai nước tăng lực), trên nút chai có gắn ống hút nhựa màu trắng;
  • 01 (một) cái ống quẹt gas tự chế (tiêm lửa); 01 đoạn ồng hút nhựa màu trắng hàn kín một đầu tất cả để trong 01 ly thủy tinh;
  • 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng
  • 01 (một) bộ sử dụng ma túy gồm: 01 đoạn ồng hút, 01 đoạn thủy tinh được gắn vào nắp chai nhựa;
  • 01 (một) bật lửa màu vàng;
  • 115 bịch nylong dạng kẹp một đầu (bên trong rỗng);
  • 01 (một) cuộn băng keo màu vàng.

2.2. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:

  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung loại Galaxy J2 Prime, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng bị bể kính màn hình;
  • 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 60K7-0851 (đã qua sử dụng);

2.3. Hoàn trả cho bị cáo Hồ Lê Huy T:

+ Tiền Việt Nam: 3.000.000đ (ba triệu đồng)

Vật chứng được xác định theo Quyết định chuyển vật chứng số 25/QĐ-VKSHGP1 ngày 28/10/2024; kèm theo Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, vật chứng ngày 01/11/2024.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Hồ Lê Huy T chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Võ Thái S1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về vụ án hình sự sơ thẩm về tội vận chuyển trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 46/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger