TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA –TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2024/HNGĐ - ST Ngày: 16/9/2024 V/v tranh chấp Hôn nhân gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hạ Tuấn và ông Đặng Viết Côi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà: ông Nguyễn Thuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 132/2024/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 42/2024/QÐST – HNGĐ ngày 28/8/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: chị Lê Thị T – sinh năm: 1975 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- - Bị đơn: anh Chu Đức H – sinh năm: 1974 (Vắng mặt)
- Đều HKTT: Thôn V, xã Đ, huyện Ứ, TP .
- - Người làm chứng: Anh Chu Xuân H1 – sinh năm: 1958 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: thôn V, xã Đ, huyện Ứ, TP .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn ly hôn, biên bản lấy lời khai chị Lê Thị T là nguyên đơn trình bày: Về tình cảm: chị kết hôn với anh Chu Đức H trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã ĐồngTân, năm 2000. Sau khi kết hôn, cuộc sống chung vợ chồng đầm ấm, hạnh phúc. Đến năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng không còn tiếng nói chung, không có cùng quan điểm sống, anh H ham chơi, không chịu làm ăn, không quan tâm đến vợ con. Cuộc sống cứ lạnh nhạt, tình cảm rạn nứt. Gia đình hai bên cũng khuyên can nhiều lần, cố gắng vì các con nhưng anh không thay đổi. Anh chị đã sống ly thân tháng 4/2023 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân, cả hai đều không có ý hàn gắn tình cảm. Nay chị nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn nên cương quyết xin ly hôn. Mong Tòa án xem xét cho chị được ly hôn để chị sớm ổn định cuộc sống làm ăn nuôi con.
Về con chung: chúng chị có 02 con chung là cháu Chu Đức A (chết năm: 2021) và cháu Chu Tiến T1 – sinh ngày: 06/12/2006. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, công sức, công nợ chung: không đề nghị Toà án giải quyết.
Về án phí: chị T đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Bị đơn anh Chu Đức H đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa làm việc. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của anh. Tuy nhiên, anh H vẫn không đến Tòa án làm việc do đó không có quan điểm trình bày.
Người làm chứng anh Chu Xuân H1 trình bày: Anh là anh trai của anh Chu Đức H, sinh sống chung một khu nhà với vợ chồng anh H. Mâu thuẫn vợ chồng anh H là có thật. Gia đình anh cũng như bản thân anh khuyên bảo, động viên các em nhiều lần nhưng anh H có quan điểm mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống, nếu chung sống chỉ tạo thêm áp lực và mệt mỏi cho cả hai bên. Gia đình và anh chỉ biết khuyên và động viên, còn việc ở với nhau nữa hay không là do vợ chồng anh H, chị T quyết định. Trong thời kỳ hôn nhân, anh H và chị T có 02 con chung là cháu Chu Đức A (chết năm: 2021) và cháu Chu Tiến T1 – sinh năm: 2006. Từ khi, anh H, chị T không ở cùng nhau thì cháu T1 ở với chị T ngoài nội thành Hà Nội, còn anh H về quê ở V, Đồng Tân sinh S.
Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương xã Đ xác định: chị T và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, ngày 24/03/2000. Sau khi kết hôn, cuộc sống của anh chị hòa thuận không thấy điều tiếng gì. Theo nắm bắt tại địa phương thì vài năm gần đây, anh anh H và chị T xảy ra mâu thuẫn và vợ chồng ly thân. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn cụ thể là gì thì địa phương không nắm rõ. Trong thời gian chung sống, anh chị có 02 con chung là cháu Chu Đức A – chết năm 2021 và cháu Chu Tiến T1 – sinh ngày: 06/12/2006 . Hiện cháu T1 đang ở với chị T. Quan điểm của chính quyền địa phương: đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.
Tại phiên toà, chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, vẫn giữ nguyên ý kiến không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ nào khác. Anh H vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Viện kiểm sát về thủ tục tố tụng: Qua việc kiểm sát hồ sơ và tại phiên tòa thấy đều đúng và đầy đủ về quan hệ pháp luật, về thẩm quyền, về người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng, việc thu thập chứng cứ, tống đạt văn bản, thời hạn chuẩn bị xét xử, đưa vụ án ra xét xử. Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T với anh H. Về con chung: giao con cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Chu Tiến T1 – sinh ngày: 06/12/2006. Về tài sản, công sức, công nợ chung: không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo qui định.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét nhận thấy:
- Về tố tụng: Chị Lê Thị T đã làm đơn ly hôn theo mẫu và đã đóng dự phí ly hôn theo đúng quy định của pháp luật. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình, Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa tiến hành thụ lý, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, triệu tập anh Chu Đức H đến toà án làm việc theo đúng trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự; quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên toà hôm nay, chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa xét xử nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử đối với vụ án.
- Về hôn nhân: Chị T và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp. Tuy nhiên, cuộc sống chung của anh chị không hòa thuận, hạnh phúc. Nguyên nhân theo chị T trình bày là vợ chồng không còn tìm được tiếng nói chung, anh H không tu chí làm ăn, không quan tâm đến vợ con nên thường bất đồng quan điểm. Tình trạng kéo dài từ năm 2018 cho đến nay. Nay chị T nhận thấy không còn tình cảm với anh H nên đã làm đơn xin ly hôn. Hội đồng xét xử nhận thấy cuộc sống hôn nhân của anh chị không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị T là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.
- Về con chung: chị T và anh H có 02 con chung là cháu Chu Đức A – chết năm: 2021; cháu Chu Tiến T1 – sinh ngày: 06/12/2006. Chị T có quan điểm xin được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T1 và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Anh H không có quan điểm trình bày. Quan điểm của các con: xin được ở với chị T để có cuộc sống ổn định. Xét nguyện vọng của các đương sự, nguyện vọng của cháu T1 và tình hình thực tế cuộc sống của cháu. Hội đồng xét xử nhận thấy, cần giao con cho chị T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị T không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con nên Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh H là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về tài sản, công sức và công nợ: Chị T trình bày là không có gì, không đề nghị Tòa án giải quyết; anh H không có quan điểm trình bày nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết. Trường hợp sau này các đương sự có yêu cầu đề nghị thì sẽ giải quyết tại vụ án khác.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Chị T phải nộp toàn bộ án phí ly hôn theo quy định pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 56; 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Tuyết .
- Chị Lê Thị T được ly hôn với anh Chu Đức H;
- Về con chung: Chị T và anh H có 02 con chung Chu Đức A – chết năm: 2021 và cháu Chu Tiến T1 – sinh ngày: 06/12/2006. Sau khi ly hôn, giao chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Tiến T1 cho đến khi con chung trưởng thành, khoẻ mạnh hoặc khi có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh H cho đến khi con chung trưởng thành, khoẻ mạnh hoặc khi có sự thay đổi khác.
Về quyền thăm hỏi con chung: “Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.”
“Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.”
- Về tài sản, công sức, công nợ chung: Chị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết. Trường hợp sau này, các đương sự có yêu cầu đề nghị thì sẽ giải quyết tại vụ án khác.
- Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ chị T đã nộp tại Biên lai thu số 0011729 ngày 15/5/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Thanh Minh |
Bản án số 46/2024/HNGĐ - ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 46/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
