Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HNGĐ - ST

Ngày 16/7/2024

V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hiển
  2. Bà Nguyễn Thị Vĩnh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Đại diện VKSND huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Trà G - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 67/2024/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 5 năm 2024, về việc: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Anh P, sinh năm 1952

- Bị đơn: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1959

Đều cùng địa chỉ: Thôn H, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

(Tại phiên tòa vắng mặt ông P, bà N. Ông P, bà N có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn ông Phạm Anh P trình bày: Ông và bà Phạm Thị N chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1977 nhưng không đăng ký kết hôn. Từ năm 1977, ông và bà N chung sống tại thôn H, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình nhưng chung sống không hạnh phúc. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 12/2023 đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn ông xin được ly hôn bà Phạm Thị N.

Về con chung: Ông và bà N có 03 con chung là Phạm Văn P1, sinh năm 1981; Phạm Văn P2, sinh năm 1982; Phạm Thị Y, sinh năm 1985. Ly hôn các con đã trưởng thành, tự lập kinh tế, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà Phạm Thị N là bị đơn trình bày: Bà và ông Phạm A Phơn chung sống với nhau như vợ chồng từ năm năm 1977 nhưng không đăng ký kết hôn. Từ năm 1977, vợ chồng chung sống tại thôn H, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Vợ chồng chung sống hoà thuận đến năm 1988 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, ông P không tôn trọng bà. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 12/2023 đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn ông P xin ly hôn, bà đồng ý ly hôn.

Về con chung: Bà và ông P có 03 con chung là Phạm Văn P1, sinh năm 1981; Phạm Văn P2, sinh năm 1982; Phạm Thị Y, sinh năm 1985. Ly hôn các con đã trưởng thành, tự lập kinh tế, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn - ông Phạm Anh P, bị đơn bà Phạm Thị N đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Anh P: Cho ông P được ly hôn bà Phạm Thị N. Về con chung: 03 con chung là Phạm Văn P1, sinh năm 1981; Phạm Văn P2, sinh năm 1982; Phạm Thị Y, sinh năm 1985 đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung, ông P và bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó không giải quyết về tài sản chung giữa ông P và bà N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng: Bà Phạm Thị N có nơi thường trú tại xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình giải quyết vụ án là đúng pháp luật. Ông P và bà N có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với ông P và bà N.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Anh P và bà Phạm Thị N chung sống với nhau từ năm 1977, không đăng ký kết hôn, nhưng chung sống trước ngày 03/01/1987 nên vẫn được xem là hôn nhân thực tế, được pháp luật bảo vệ. Xét thấy, quá trình chung sống ông P và bà N phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, không tôn trọng nhau. Ông P xin ly hôn, bà N đồng ý ly hôn, Ủy ban nhân dân xã M đề nghị Toà án giải quyết cho ông P được ly hôn bà N. Xét thấy, mâu thuẫn giữa ông P và bà N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P xử cho ông P được ly hôn bà N là phù hợp.

[2.2] Về con chung: Ông P và bà N có 03 con chung là Phạm Văn P1, sinh năm 1981; Phạm Văn P2, sinh năm 1982; Phạm Thị Y, sinh năm 1985. Ly hôn các con đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung: Ông P và bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó không giải quyết về tài sản chung giữa ông P và bà N.

[3]Về án phí: Ông P là người cao tuổi, có đơn xin miễn nộp tiền án phí thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên miễn nộp tiền án phí cho ông P.

[4] Về quyền kháng cáo: Ông P và bà N có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 266; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm b khoản 4 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT - TANDTC - VKSNDTC – BTP ngày 06/01/2016.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ông Phạm A Phơn được ly hôn bà Phạm Thị N.
  2. Về con chung: Ông P và bà N có 03 con chung là Phạm Văn P1, sinh năm 1981; Phạm Văn P2, sinh năm 1982; Phạm Thị Y, sinh năm 1985, các con chung đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Tòa án không giải quyết về tài sản.
  4. Về án phí : Miễn án phí ly hôn sơ thẩm cho ông P.
  5. Về quyền kháng cáo: Ông P và bà N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Đương sự, UBND xã Mê Linh;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Lan Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HNGĐ - ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 46/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn P - N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger