TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2024/HNGĐ-ST Ngày 16-5-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Dung
- Bà Bùi Thị Nhàn
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Chính - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 23/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2024 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXX-ST ngày 01/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09/5/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T ; địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt;
Bị đơn: Anh Phạm Văn V ; địa chỉ: Thôn T 1, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong Đơn khởi kiện ngày 19 tháng 02 năm 2024 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Bùi Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị T và anh Phạm Văn V kết hôn với nhau do tự nguyện, có được tổ chức lễ cưới theo phong tục, đăng ký kết hôn tại UBND xã An Hòa, huyện An Dương năm 2020. Quá trình chung sống do tính tình không hòa hợp nên xảy ra nhiều bất hòa, mâu thuẫn. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hòa giải nhưng không cải thiện. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin ly hôn anh V.
Về con chung: Chị T và anh V có hai con chung là Phạm Quốc Đ sinh ngày 10/9/2019 và Phạm Thị Kim P sinh ngày 11/10/2021. Khi ly hôn, chị T có nguyện vọng được nuôi con Phạm Thị Kim P, để cho anh V nuôi con Phạm Quốc Đ; không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu giải quyết.
Lời khai trong quá trình giải quyết vụ án ngày 13/3/2024, bị đơn Phạm Văn V trình bày: Thống nhất với trình bày của chị T về thời điểm vợ chồng kết hôn và tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng và đồng ý ly hôn do tình cảm vợ chồng không còn. Thống nhất với trình bày của chị T về con chung nhưng có nguyện vọng nuôi cả hai vì lý do không muốn anh em rời xa nhau và chị T không quan tâm đến con; không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Anh V không yêu cầu giải quyết về tài sản chung.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và về việc giải quyết vụ án như sau: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS); Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình (Luật HNGĐ); khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án xử: Về hôn nhân, công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị T và anh Phạm Văn V ; về con chung, giao con Phạm Thị Kim P cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Phạm Quốc Đ cho anh V trực tiếp nuôi; nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:
[1] Về thẩm quyền: Bị đơn cư trú tại huyện An Dương nên Tòa án nhân dân huyện An Dương thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều Điều 39 của BLTTDS.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị T và anh V được UBND xã An Hòa, huyện An Dương cấp chứng nhận kết hôn số 13 ngày 02/3/2020 nên hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp. Nay các bên thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã căng thẳng, trầm trọng, đồng ý thuận tình ly hôn nên chấp nhận.
[3] Về con chung:
[3.1] Các bên có hai con chung như trình bày ở trên là đúng và đều có nguyện vọng được nuôi con. Quá trình hòa giải tại Tòa án các bên đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, anh V đồng ý để cho chị T nuôi cả hai con; trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hòa giải anh V có văn bản thay đổi ý kiến đề nghị được nuôi cả hai con. Tại phiên tòa, anh V trình bày lý do xin thay đổi là do áp lực từ bố mẹ, cho rằng như vậy là bỏ rơi các con.
[3.2] Xét thấy việc anh V trình bày lý do muốn nuôi cả hai con ở trên là không thuyết phục, thiếu căn cứ. Việc giao con cần đảm bảo lẽ công bằng về
quyền được nuôi con của các bên. Con Phạm Thị Kim P là nữ, chưa đủ 3 tuổi nên giao cho chị T được trực tiếp nuôi, con Phạm Quốc Đ đã trên 4 tuổi nên giao cho anh V nuôi. Việc giao con như vậy là bảo đảm được quyền lợi về mọi mặt của con, phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật HNGĐ.
[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Các bên không yêu cầu nên không xét.
[5] Về tài sản chung: Không bên nào yêu cầu giải quyết nên không xét.
[6] Về án phí: Chị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án theo quy định theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị T và anh Phạm Văn V.
Về con chung: Giao con Phạm Thị Kim P sinh ngày 11/10/2021 cho chị Bùi Thị T trực tiếp nuôi; giao con Phạm Quốc Đ sinh ngày 10/9/2019 cho anh Phạm Văn V trực tiếp nuôi. Các bên được quyền nuôi con cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung: Không bên nào yêu cầu nên không giải quyết.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Bùi Thị T phải nộp 300.000 đồng, được trừ vào số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 8378 ngày 01/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương. Chị Bùi Thị T đã nộp đủ án phí.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Văn Dũng |
Bản án số 46/2024/HNGĐ-ST ngày 16/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 46/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử cho ly hôn
