Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HS-ST

Ngày: 16 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Hiệp.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Chí Lin.

Ông Lý Văn Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Hồng Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Quốc K, sinh ngày 29 tháng 6 năm 1995 tại Cà Mau; Căn cước công dân: [...]; Nơi cư trú: Khóm D, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không có; Trình độ học vấn: Lớp 4/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Ú và bà Trần Thị T; Bản thân chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 116/2014/HS-ST ngày 20 tháng 5 năm 2014 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt bị cáo Trần Quốc K 04 năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Bị cáo K chấp hành xong bản án ngày 28 tháng 9 năm 2017, đương nhiên xóa án tích; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16 tháng 12 năm 2023 đến nay, bị cáo có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Huỳnh Văn P, sinh năm 2002.

Nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

Chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, xin vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

- Người làm chứng:

  1. Ông Trần Phúc V, sinh năm 2003, vắng mặt.
  2. Ông Hà Văn H, sinh năm 2004, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 14 tháng 12 năm 2003, bị cáo Trần Quốc K đi bộ từ phòng trọ thuộc khu vực ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An đến khu vực khu dân cư T thuộc ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An gặp người nam thanh niên tên P1 không xác định nhân thân lai lịch hỏi mua 400.000đồng chất ma túy (dạng đá) để sử dụng, được P1 đồng ý và bán cho bị cáo K 01 túi nylon hàn kín bên trong có chứa chất ma túy (dạng đá), bị cáo K trả tiền mua chất ma túy xong và lấy túi nylon chứa chất ma túy (dạng đá) cất giấu vào bên trong túi quần phía trước bên phải của bị cáo K đang mặc trên người. Sau đó, bị cáo K đi bộ về phòng trọ của bị cáo K cất giấu.

Đến khoảng 17 giờ 45 phút ngày 16 tháng 12 năm 2023, bị cáo K lấy túi nylon hàn kín bên trong có chứa chất ma túy (dạng đá) mua của P1 cất giấu vào bên trong túi quần phía trước bên phải của bị cáo K đang mặc trên người rồi lấy xe biển kiểm soát 66G1-722.64 điều khiển đi tìm nơi để sử dụng chất ma túy.

Đến khoảng 18 giờ 05 phút ngày 16 tháng 12 năm 2023, khi bị cáo K đi đến khu vực ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An thì bị lực lượng Công an xã Đ phát hiện bắt giữ.

Vật chứng thu giữ quả tang gồm có:

  • 01 túi nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma tuý (dạng đá).
  • 01 xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Ariblade, biển kiểm soát 66G1-722.64.

Tại Kết luận giám định số 1328/KL-KTHS ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Phòng K1 Công an tỉnh L, kết luận:

“Tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói nylon hàn kín được đóng gói niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,5819 gam, loại: Methamphetamine.

Kèm theo kết luận giám định: Không có.

Bản ảnh giám định gồm 07 ảnh được lưu tại Phòng K1, Công an tỉnh L.

H1 lại đối tượng gửi giám định: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 0,4593 gam và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 1328”.

Qua điều tra xác định: Xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Ariblade, màu xám, biển kiểm soát 66G1-722.64, số máy: JF94E0486298, số khung: RLHJF6337NZ703657 là tài sản của ông Huỳnh Văn P, sinh năm 2002, nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (bạn K) mua vào tháng 5 năm 2012 để sử dụng. Ngày 16 tháng 12 năm 2023, ông P cho bị cáo K mượn xe môtô để sử dụng. Sau đó, bị cáo K điều khiển đi tìm nơi để sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An bắt giữ.

Ngày 31 tháng 01 năm 2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, tỉnh Long An đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Ariblade, màu xám, biển kiểm soát 66G1-722.64, số máy: JF94E0486298, số khung: RLHJF6337NZ703657, biển kiểm soát 66G1-722.64 cho ông Huỳnh Văn P xong và ông P sau khi nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Quốc K hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố, không đưa ra chứng cứ nào để minh oan chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại bản cáo trạng số: 47/CT-VKSĐH ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Trần Quốc K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo Trần Quốc K gây ra; Đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc K mức hình phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo không thu lợi bất chính nên không đề cập xem xét.

Về tang vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng 0,4593gam, võ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 1328.

Đối với người thanh niên tên P1 có hành vi bán chất ma túy cho bị cáo K. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, tỉnh Long An không xác định được nhân thân lai lịch, chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo K nên không khởi tố xử lý trong vụ án này là phù hợp. Do đó, không đề cập xem xét.

Đối với ông Huỳnh Văn P có hành vi cho bị cáo K mượn xe môtô biển kiểm soát 66G1-722.64 để bị cáo K điều khiển đi tìm nơi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng xét về ý thức chủ quan thì ông P không biết bị cáo K sử dụng xe môtô trên vào mục đích phạm tội nên hành vi của ông P không đủ yếu tố cấu thành tội phạm có liên quan. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, tỉnh Long An không khởi tố tội danh liên quan là phù hợp nên không đề cập xem xét.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử, các quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An và hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thư ký tòa án, Hội đồng xét xử sơ thẩm là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[1.2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án xin vắng mặt và những người làm chứng vắng mặt không lý do nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung vụ án: Trước tòa bị cáo Trần Quốc K khai nhận: Bị cáo K nghiện chất ma túy từ tháng 11 năm 2023 nên khoảng 18 giờ 05 phút ngày 16 tháng 12 năm 2023, tại khu vực thuộc ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An bị cáo Trần Quốc K có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy có khối lượng 0,4593gam, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Quốc K trước Tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 16 tháng 12 năm 2023, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, của những người làm chứng, phù hợp với bản kết luận giám định của Phòng K1 - Công an tỉnh L, tang vật chứng thu giữ đã được thẩm tra xác minh công khai tại phiên Tòa và phù hợp với nội dung bản cáo trạng. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Quốc K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[3] Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Trần Quốc K với tội danh và Điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo Trần Quốc K gây ra là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, bị cáo biết chất ma túy gây tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội, là tiền đề cho những tội phạm khác, bị cáo biết và pháp luật buộc bị cáo phải biết Nhà nước nghiêm cấm việc tàng trữ chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện hành vi với lỗi cố trực tiếp. Hành vi trái pháp luật của bị cáo Trần Quốc K cần xử lý nghiêm theo pháp luật Hình sự, cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Trần Quốc K nhằm cách ly bị cáo với xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục - răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về nhân thân: Bị cáo Trần Quốc K có nhân thân xấu vì đã từng bị xử phạt 04 năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên khi áp dụng hình phạt có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần. Xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Trần Quốc K là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[4] Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là phù hợp.

[5] Đối với người thanh niên tên P1 có hành vi bán trái phép chất ma túy cho bị cáo K. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, tỉnh Long An không xác định được nhân thân lai lịch, chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo K nên không khởi tố xử lý trong vụ án này là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

[6] Đối với ông Huỳnh Văn P có hành vi cho bị cáo K mượn xe môtô biển kiểm soát 66G1-722.64 để bị cáo K điều khiển đi tìm nơi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng xét về ý thức chủ quan thì ông P không biết bị cáo K sử dụng xe môtô trên vào mục đích phạm tội nên hành vi của ông P không đủ yếu tố cấu thành tội phạm có liên quan. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, tỉnh Long An không khởi tố tội danh liên quan là phù hợp nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

[7.1] Bị cáo Trần Quốc K không có thu lợi bất chính nên không buộc nộp lại sung vào công quỹ Nhà nước.

[7.2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Huỳnh Văn P sau khi nhận lại tài sản xong không yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

[8] Về tang vật chứng: Đối với mẫu còn lại sau giám định có khối lượng 0,4593gam, võ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 1328. Xét đây là công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Về án phí: Buộc bị cáo Trần Quốc K phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc K 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 12 năm 2023.

Căn cứ khoản 1 và khoàn 3 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Quốc K 45 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 16 tháng 4 năm 2024) để đảm bảo cho việc thi hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Quốc K theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về tang vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng 0,4593gam, võ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 1328.

Tang vật trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 74-14/03/2024 ngày 20 tháng 3 năm 2024.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án; Buộc bị cáo Trần Quốc K nộp 200.000đồng án phí Hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.

Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Án này là sơ thẩm bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Đức Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An
  • - Công an huyện Đức Hòa;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Mai Văn Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 46/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ma tuy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger