Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG BÌNH

Bản án số: 46/2024/DS-PT

Ngày: 15 - 9 - 2024

V/v “Đòi lại tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Viết Hải

Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Thanh Nhàn và ông Nguyễn Văn Dương

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 27/2024/TLPT-DS ngày 08/7/2024, về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 19/2024/DS-ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 265/2024/QĐ-PT ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Trương Quang H, sinh năm 2002; địa chỉ: Số C đường T, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Trương Ý N, sinh năm 1995; địa chỉ: Số C đường T, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

Bị đơn: Anh Đoàn Xuân H1, sinh năm 2002; địa chỉ: Số A Ngõ A đường P, phường B, TP ., tinh Q, có mặt.

Do có kháng cáo của bị đơn: Anh Đoàn Xuân H1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới thì nội dung vụ án như sau:

Nguyên đơn anh Trương Quang H và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Xuất phát từ mối quan hệ bạn bè, anh Trương Quang H có cho anh Đoàn Xuân H1 vay số tiền 160.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi triệu đồng). Việc cho vay theo hình thức chuyển khoản, cụ thể như sau:

Lần 1: ngày 05/10/2022, anh Trương Quang H sử dụng số tài khoản 19035176762011 tại Ngân hàng TMCP K (T1), chủ tài khoản Trương Quang H chuyển vào số tài khoản 53110000922849 tại Ngân hàng Đ (B), chủ tài khoản: Đoàn Xuân H1, số tiền 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng)

Lần 2: Ngày 13/10/2022, anh Trương Quang H sử dụng số tài khoản 19035176762011 tại Ngân hàng TMCP K (T1), chủ tài khoản Trương Quang H chuyển vào số tài khoản 53110000922849 tại Ngân hàng TMCP Đ (B), chủ tài khoản: Đoàn Xuân H1, số tiền 80.000.000 đồng (T mươi triệu đồng)

Hai bên có thoả thuận bằng miệng với nhau là anh H1 sẽ trả lại số tiền trên khi nào anh H có yêu cầu đòi lại. Tuy nhiên, kể từ ngày vay tiền cho đến nay đã nhiều lần anh H yêu cầu anh H1 trả lại số tiền trên, nhưng anh H1 không trả theo đúng thoả thuận. Vì vậy, nay để đảm bảo quyền lợi của mình anh H khởi kiện tại Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới yêu cầu anh H1 trả lại số tiền đã vay là 160.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi triệu đồng).

Bị đơn anh Đoàn Xuân H1 trình bày: Cũng xuất phát từ mối quan hệ bạn bè, giữa anh và anh Trương Quang H có cùng nhau thoả thuận góp vốn làm ăn buôn bán gỗ (loại gỗ tự nhiên). Vào ngày 05/10/2022 anh H có chuyển khoản cho anh, số tiền 80.000.000 đồng. Đến ngày 13/10/2022, anh H chuyển tiếp cho anh, số tiền 80.000.000 đồng. Việc chuyển khoản được thực hiện từ số tài khoản 19035176762011 Ngân hàng T1, chủ tài khoản Trương Quang H chuyển vào số tài khoản 53110000922849 Ngân hàng B, chủ tài khoản: Đoàn Xuân H1. Thời gian sau đó, anh đã chuyển khoản trả lại cho anh H số tiền anh đã nhận của anh H, nhưng anh không nhớ rõ là đã chuyển trả lại cho anh H bao nhiêu tiền và chuyển vào thời gian nào. Anh sẽ cung cấp cho Toà án sao kê tài khoản Ngân hàng về các lần chuyển khoản tiền trả lại cho anh H, cung cấp các tài liệu, chứng cứ thể hiện việc góp vốn buôn bán làm ăn chung giữa hai người để chứng minh số tiền 160.000.000 đồng mà anh H chuyển cho anh là số tiền hai bên cùng nhau hùn hạp làm ăn chứ không phải vay nợ.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2024/DS - ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới quyết định: Căn cứ Điều 5, Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 228, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Căn cứ các Điều 117, 119, 357, 463, 466, 468, 469 Bộ luật Dân sự 2015; Căn cứ nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trương Quang H về việc “Đòi lại tài sản”. Buộc anh Đoàn Xuân H1 phải trả cho anh Trương Quang H, số tiền 160.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi triệu đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lãi suất chậm thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22/6/2024, bị đơn anh Đoàn Xuân H1 kháng cáo đề nghị xét xử lại vụ án theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về việc buộc bị đơn phải trả lại số tiền 160.000.000 đồng cho nguyên đơn.

Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, nguyên đơn có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện, bị đơn không đồng ý và giữ nguyên kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn anh Đoàn Xuân H1 giữ nguyên kháng cáo cho rằng anh đã trả đủ toàn bộ số tiền cho anh Trương Quang H góp làm ăn là 160.000.000 đồng, thể hiện qua sao kê tài khoản 03 lần chuyển khoản. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc anh phải trả nợ cho anh H, số tiền 160.000.000 đồng là không đúng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh. Ngoài ra, anh Đoàn Xuân H1 cung cấp tài liệu chứng cứ là Sổ phụ chi tiết kiêm báo nợ/báo có tại Ngân hàng TMCP Q từ ngày 01/12/2022 đến ngày 31/12/2022 đối với khách hàng Đoàn Xuân H1. Các đương sự không thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm số 19/2024/DS - ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, bị đơn không phải chịu án phí phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[1] Về tố tụng: Ngày 22/5/2024, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xét xử vụ án. Ngày 04/6/2024, bị đơn anh Đoàn Xuân H1 làm đơn kháng cáo, đơn kháng cáo của bị đơn làm trong hạn luật định, nội dung, hình thức đúng quy định và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án để giải quyết theo trình tự, thủ tục phúc thẩm là phù hợp với quy định tại các Điều 272, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn anh Đoàn Xuân H1, Hội đồng xét xử nhận định: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án, ý kiến của các đương sự, Kiểm sát viên. Có căn cứ khẳng định do có mối quan hệ bạn bè nên anh Trương Quang H đã 02 lần sử dụng số tài khoản 19035176762011 tại Ngân hàng TMCP K (T1), chủ tài khoản Trương Quang H chuyển vào số tài khoản 53110000922849 tại Ngân hàng Đ (B), chủ tài khoản Đoàn Xuân H1 mỗi lần chuyển số tiền 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng) vào các ngày 05/10/2022 và 13/10/2022. Tổng cộng số tiền 160.000.000 đồng. Anh H1 xác nhận đã nhận của anh H, số tiền 160.000.000 đồng theo hình thức chuyển khoản đúng như anh H khai trước Tòa. Khi chuyển khoản tiền các bên đều có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và hoàn toàn tự nguyện. Hình thức, nội dung, đối tượng, mục đích của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Vì vậy, việc chuyển tiền giữa anh H và anh H1 thông qua tài khoản Ngân hàng được xác định là Hợp đồng dân sự vay tài sản không kỳ hạn, không tính lãi, phù hợp theo quy định tại các Điều 116, 117, 118, 119, 463, 466, 469 Bộ luật dân sự, nên có hiệu lực thi hành, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia giao kết. Nguyên đơn anh H cho rằng kể từ ngày cho anh H1 vay tiền đến nay đã nhiều lần yêu cầu anh H1 trả lại số tiền trên, nhưng anh H1 không trả nên khởi kiện tại Tòa án để đòi lại tiền; còn bị đơn anh H1 tại cấp sơ thẩm cho rằng anh đã chuyển khoản trả lại cho anh H số tiền anh đã nhận của anh H, nhưng anh không nhớ rõ là đã chuyển trả lại cho anh H bao nhiêu tiền và chuyển vào thời gian nào, anh H1 không cung cấp được chứng cứ chứng minh số tiền anh đã chuyển trả lại cho anh H. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử buộc bị đơn anh H1 phải trả cho nguyên đơn anh H, số tiền 160.000.000 đồng. Tuy nhiên, trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa bị đơn anh H1 cho rằng anh đã trả đủ toàn bộ số tiền cho anh H góp làm ăn là 160.000.000 đồng, bị đơn anh H1 đã xuất trình tài liệu chứng cứ mới là Sổ phụ chi tiết kiêm báo nợ/báo có tại Ngân hàng TMCP Q từ ngày 01/12/2022 đến ngày 31/12/2022 đối với khách hàng Đoàn Xuân H1, thể hiện ngày 10/12/2022 anh H1 sử dụng số tài khoản 3180131823333 tại Ngân hàng TMCP Q (MB), chủ tài khoản Đoàn Xuân H1 chuyển vào số tài khoản 19035176762011 tại Ngân hàng TMCP K (T1) chủ tài khoản Trương Quang H, số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), ngày 12/12/2022 chuyển số tiền 50.000.000 đồng và ngày 13/12/2022 chuyển số tiền 25.000.000 đồng. Tổng cộng anh Đoàn Xuân H1 đã chuyển cho anh Trương Quang H, số tiền 275.000.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn anh Trương Quang H thừa nhận đã nhận được số tiền như các lần chuyển khoản bị đơn anh Đoàn Xuân H1 trình bày, nên có căn cứ xác định bị đơn anh H1 đã thực hiện nghĩa vụ trả tiền đầy đủ cho nguyên đơn anh H theo quy định tại Điều 280 Bộ luật dân sự. Do xuất hiện tình tiết mới nên việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh H là chưa phù hợp làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn anh H1. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh H1, sửa bản án sơ thẩm số 19/2024/DSST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trương Quang H.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn anh Đoàn Xuân H1 được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, nguyên đơn anh Trương Quang H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 116, 117,118, 119, 280, 463, 466, 469 Bộ luật Dân sự; Điều 26, 27, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí toà án.

  1. Chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn anh Đoàn Xuân H1, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 19/2024/DS - ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.

    Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trương Quang H, về việc buộc anh Đoàn Xuân H1 phải trả cho anh Trương Quang H số tiền 160.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi triệu đồng).

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn anh Trương Quang H phải chịu 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001149 ngày 16/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới. Anh H còn phải nộp 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.
  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn anh Đoàn Xuân H1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, trả lại cho anh Đoàn Xuân H1 số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai số: 0001255 ngày 14/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 15/9/2024.

Nơi nhân:

  • - TANDCC tại Đà Nẵng;
  • - VKSND CC tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh QB (P9);
  • - TAND Thành phố Đồng Hới;
  • - Chi cục THADS thành phố Đ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Dương Viết H2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/DS-PT ngày 15/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH về đòi lại tài sản

  • Số bản án: 46/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn anh Đoàn Xuân H, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 19/2024/DS - ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger