Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HS-ST

Ngày 15 tháng 8 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hà.

Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thuý Hoàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Đức Minh
  2. Bà Nguyễn Thị Thêu
  3. Ông Lê Mạnh Cường

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh – Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Trọng Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2024/TLST-HS ngày 04/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024, đối với:

1. Bị cáo: Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1977 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; chỗ ở: Số nhà C, đường L, tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn L1 (đã chết) và bà Đỗ Thị N; chồng: Nguyễn Văn L2 (đã ly hôn), có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/9/2023 đến nay, có mặt.

2. Người bào chữa cho bị cáo L: Luật sư Phạm Hữu G - Văn phòng luật sư Phạm Hữu L3 và cộng sự - Đoàn luật sư tỉnh T, có mặt.

3. Bị hại:

3.1. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Có mặt.

3.2. Chị Đỗ Thị D, sinh năm 1981; nơi cư trú: Khu A, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Có mặt.

3.3. Anh Phạm Ngọc T1, sinh năm 1981; nơi cư trú: Tổ E, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình; nơi đăng ký tạm trú: Số nhà I, ngõ E, tổ A, đường N, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Có mặt.

4. Người làm chứng:

4.1. Bà Phạm Thị L4, sinh năm 1958; nơi cư trú: Tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Chỗ ở: Thôn Đ, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình. Có đơn xin vắng mặt.

4.2. Anh Đặng Duy P, sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn H, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

4.3. Ông Nguyễn Văn O, sinh năm 1971; nơi cư trú: Số nhà C, đường L, tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2021, Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) thành phố T giao cho UBND phường K thu hồi khu đất trên địa bàn phường của Công ty cổ phần X và một phần của Công ty H2 để quy hoạch khu dân cư, tổng diện tích 1021,8m², được chia làm 29 lô. Những hộ gia đình được giao đất là cán bộ công nhân viên của Công ty cổ phần X đang ở tập thể tại công ty và chưa có đất ở, nhà ở. Việc giao đất có thu tiền sử dụng đất, không thông qua đấu giá.

Nguyễn Thị Hồng L làm kinh doanh tự do, có quan hệ thân thiết và đăng ký tạm trú tại nhà ông Nguyễn Văn O, sinh năm 1971 - cán bộ địa chính phường K Do ở cùng nhà với ông O nên bị cáo biết việc phân lô, giao đất nêu trên. Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2021 đến tháng 4/2023, bị cáo nói dối là đang mua đất của người được giao đất để bán kiếm lời, rồi rủ những người quen cùng góp vốn mua đất. Ngoài ra, bị cáo L còn nói dối có thể làm được Quyết định giao đất cho những trường hợp vướng mắc chưa được UBND thành phố T ra Quyết định giao đất. Với thủ đoạn trên, bị cáo L đã thực hiện 03 vụ lừa đảo, chiếm đoạt của 03 người với tổng số tiền 1.210.000.000 đồng, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng tháng 10/2021, bị cáo L nói với chị Nguyễn Thị T, ông O cán bộ địa chính phường K là chồng của bị cáo và ông O đang làm sổ đỏ, giấy tờ giao 29 lô đất tại khu Công ty cổ phần X. Bị cáo đang liên hệ mua lại một số lô đất của người được giao với giá rẻ từ 550.000.000 đồng đến 700.000.000 đồng, sau đó làm sổ đỏ mất khoảng 3-4 tháng rồi bán kiếm lời. Bị cáo dẫn chị T đi xem các lô đất trên và rủ chị T góp vốn mua lô đất số 27. Tối cùng ngày, bị cáo nói dối với chị T là đã mua được lô đất số 27 với giá 550.000.000 đồng. Chị T tin tưởng bị cáo nên đồng ý góp vốn nhưng chỉ có 66.000.000 đồng nên chị T đã trao đổi, rủ chị Đỗ Thị D và anh Đặng Duy P cùng chung góp vốn mỗi người 67.000.000 đồng. Ngày 04/11/2021, chị T nhất trí góp 200.000.000 đồng chung mua lô đất số 27, đã chuyển khoản đến tài khoản ngân hàng V số [...] của bị cáo L 190.000.000 đồng và 10.000.000 đồng bị cáo nợ chị T trước đó.

Sau khi nhận tiền của chị T, bị cáo không liên hệ mua lô đất 27 hay lô đất nào khác. Khi chị T hỏi thì bị cáo nói dối đã làm xong sổ đỏ và đã bán được lô đất có lãi. Chị T đòi tiền thì bị cáo nói đã sử dụng tiền vào việc kinh doanh khác và xin lùi lại thời hạn thanh toán. Do chị T đòi tiền nhiều lần nên lần lượt các ngày 29/10/2022, 13/11/2022, 06/12/2022, bị cáo chuyển khoản trả chị T 4.000.000 đồng, 10.000.000 đồng và 50.000.000 đồng. Tổng cộng, bị cáo đã trả chị T 64.000.000 đồng.

Kết quả xác minh lô đất số 27 là của gia đình bà Cao Thị N1, sinh năm 1948, trú tại: Tổ B, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình và bà N1 không chuyển nhượng lô đất trên cho ai.

Vụ thứ hai: Khoảng tháng 11/2022, bị cáo biết chị Đỗ Thị D là người góp vốn với chị T để đầu tư lô đất 27. Bị cáo nói dối chị D là lô đất 27 bị cáo bán đã có lãi, chị D góp vốn 67.000.000 đồng nên được nhận lãi là 28.000.000 đồng. Bị cáo rủ chị D dùng số tiền này để tiếp tục đầu tư mua các lô đất khác. Bị cáo nói với chị D, bị cáo có chồng là ông O – cán bộ địa chính phường K trực tiếp làm danh sách, hồ sơ giấy tờ cấp giấy chứng nhận 29 lô đất. Bị cáo có thể làm sổ đỏ cho những lô đất trên và nhiều người dân không có tiền làm sổ nên bị cáo rủ chị D góp vốn mua lại các lô đất này sau đó làm sổ đỏ để bán kiếm lời. Bị cáo dẫn chị D đi xem đất, chị D thấy đất đẹp, giá rẻ và tin tưởng bị cáo từ việc đầu tư chung lô đất số 27, đã có lãi nên đồng ý góp vốn. Bị cáo dặn chị D việc đầu tư chung phải kín, không được nói với bất kỳ ai. Bị cáo sử dụng tài khoản Z “Linh N2” đăng ký số điện thoại 0965.492.xxx của bị cáo để nhắn tin đến tài khoản Zalo “Dung Dung” đăng ký số điện thoại 0947.628.xxx của chị D để trao đổi việc mua bán đất. Chị D đã nhiều lần chuyển cho bị cáo 647.000.000 đồng để mua chung 04 lô đất như bị cáo nói, gồm:

  • Lô đất đầu tiên bị cáo nói với chị D mua với giá 700.000.000 đồng, gồm tiền đất và làm sổ, có 04 người mua chung là bị cáo, chị D, bà H làm tại Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T và ông D1 – Phó Chủ tịch UBND phường K Bị cáo thoả thuận với chị D mọi giao dịch mua đất, thủ tục làm sổ đỏ do bị cáo thực hiện; bị cáo không trao đổi thông tin lô đất mà chỉ nói mỗi người phải góp 175.000.000 đồng, khi làm được sổ đỏ thì bán, số tiền lãi chia đều cho 04 người. Do tin tưởng bị cáo nên ngày 09/11/2022 và ngày 15/11/2022, chị D lần lượt chuyển khoản cho bị cáo 50.000.000 đồng và 125.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng V1 số 28876868999 của bị cáo.
  • Sau khi chị D chuyển tiền, bị cáo liên tục gọi điện, nhắn tin qua zalo rủ chị D góp vốn mua thêm 03 lô đất khác. Để chị D tin tưởng, bị cáo gửi ảnh chụp màn hình điện thoại tin nhắn zalo thể hiện cuộc nói chuyện giữa bị cáo và bà H, hình ảnh người dân đến nhà bán đất cho L, hình ảnh L chuyển tiền mua đất cho người dân, hình ảnh bị cáo cùng chồng là ông O ra ngân hàng vay tiền để mua đất. Bị cáo lấy lý do các lô đất mua phải đặt cọc, phải chuyển tiền ngay để làm hợp đồng chuyển nhượng, khoảng tháng 5 sẽ có sổ đỏ nên yêu cầu chị D chuyển tiền cho bị cáo. Do tin tưởng bị cáo L nên từ ngày 19/11/2022 đến ngày 02/01/2023, chị D nhiều lần chuyển khoản đến tài khoản ngân hàng V1 số 28876868999 và tài khoản ngân hàng V số [...] của bị cáo. Tổng số tiền đã chuyển khoản là 410.950.000 đồng và đưa tiền mặt cho bị cáo là 61.050.000 đồng.

Ngày 16/01/2023, chị D yêu cầu bị cáo L viết giấy biên nhận việc góp tiền mua chung 04 lô đất nêu trên, bị cáo yêu cầu chị D phải ghi nội dung là thỏa thuận đầu tư trong thời gian 02 năm thì bị cáo mới ký. Chị D buộc phải viết nội dung như bị cáo yêu cầu và bị cáo L ký xác nhận số tiền góp của bà D là 742.000.000 đồng (gồm 647.000.000 đồng chị D chuyển cho bị cáo nêu trên và 67.000.000 đồng chị D đưa cho chị T góp vốn với bị cáo và 28.000.000 đồng lãi). Đến tháng 4/2023, chị D liên lục nhắn tin qua zalo hỏi bị cáo về các lô đất đã đầu tư, bị cáo đưa ra lý do thời gian làm sổ đỏ kéo dài, chị D yêu cầu bị cáo trả tiền nhưng đến nay bị cáo không trả. Tổng số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của chị D là 647.000.000 đồng.

Vụ thứ ba: Bà Phạm Thị L4 nguyên là kế toán Công ty cổ phần X và nằm trong danh sách 29 hộ thuộc diện được giao đất và bốc thăm được vị trí lô số 13, diện tích 33,7m². Khi UBND thành phố T để giao đất, bà L4 cùng 03 hộ khác chưa đủ điều kiện giao đất ngay mà phải tiếp tục bổ sung hồ sơ. Khoảng cuối tháng 12/2022, anh Phạm Ngọc T1 (con trai bà L4) biết ông O là cán bộ địa chính phường K, là người trực tiếp làm hồ sơ đề nghị xét duyệt để giao đất nên anh T1 cùng vợ đến nhà ông O để nhờ giúp đỡ. Khi đến nơi, thấy ông O đang bận tiếp khách nên vợ chồng anh T1 không vào nhà mà đợi ở quán nước gần đó. Bị cáo L từ nhà ông O đi ra gặp vợ chồng anh T1 và giới thiệu bị cáo là vợ ông O. Anh T1 nói với bị cáo đến nhờ anh O giúp lô đất của bà L4 ở khu dân cư Công ty cổ phần X chưa được giao. Bị cáo nói với anh T1 về việc, có thể nói với anh O giúp việc giao đất cho bà L4. Bị cáo cho anh T1 số điện thoại 0965.492.xxx của bị cáo và kết bạn Zalo với anh T1. Hôm sau, bị cáo gọi điện và nhắn tin cho anh T1 qua zalo trao đổi sẽ lo hết các thủ tục giấy tờ, tiền mua đất, đóng thuế, ra sổ đỏ cho lô đất với tổng chi phí 350.000.000 đồng, đưa trước 100.000.000 đồng để nhờ người bên Uỷ ban thành phố, anh T1 đồng ý. Từ cuối tháng 12/2022 đến ngày 13/4/2023, anh T1 09 lần trực tiếp đưa tiền cho bị cáo 310.000.000 đồng và 04 lần chuyển vào tài khoản ngân hàng V1 số 28876868999 của bị cáo L 53.000.000 đồng. Sau khi bị cáo nhận tiền, anh T1 liên lạc với bị cáo qua Z và điện thoại hỏi về việc làm giấy tờ lô đất số 13 nêu trên thì bị cáo nói dối đã nộp tiền đất và thuế xong, chờ để ký lấy sổ đỏ. Tổng số tiền bị cáo L chiếm đoạt của anh T1 là 363.000.000 đồng.

Cáo trạng số 42/CT-VKSTB ngày 04/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hồng L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo L khai: Bị cáo và chị D, chị T quen biết nhau từ trước thông qua việc đi môi giới mua bán đất cùng nhau. Bị cáo có rủ chị D, chị T góp vốn đầu tư để mua đất bán kiếm lời nhưng không nói rõ là mua bán lô đất ở đâu. Bị cáo thừa nhận đã nhận của chị T 200.000.000 đồng để mua đất, nhưng không mua được lô đất nào, chị T nhiều lần đòi tiền đã đầu tư nên bị cáo đã chuyển khoản trả lại hết tiền cho chị T bằng hình thức chuyển khoản. Việc cáo trạng xác định bị cáo mới trả cho chị T 64.000.000 đồng là không đúng. Bị cáo thừa nhận có nhận của chị D 647.000.000 đồng góp vốn mua đất nhưng bị cáo không mua được lô đất nào, số tiền chị D góp vốn bị cáo đã cho người khác vay, đến nay chưa trả cho chị D được khoản tiền nào. Bị cáo và chị D có biên bản về việc góp vốn đầu tư chung, chứ không có hành vi lừa đảo chị D. Bị cáo thừa nhận có nhận của anh T1 360.000.000 đồng cũng là để góp vốn mua đất chứ không phải để giúp anh T1 làm thủ tục giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với lô đất của bà Phạm Thị L4 vì bị cáo không biết bà L4 là ai.

Bị hại chị Nguyễn Thị T trình bày: Do bị cáo L nói với chị T là ông O - cán bộ địa chính phường K là chồng bị cáo nên biết được dự án giao đất ở khu Công ty X cho các hộ gia đình nên bị cáo có thể mua được và đã mua được lô đất số 27 với giá rẻ, sau đó sẽ làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rồi bán kiếm lời nên chị đã góp 200.000.000 cho bị cáo L để mua lô đất này. Nhưng sau đó chị phát hiện bị cáo L không mua được đất nên đã đòi tiền, bị cáo L đã chuyển khoản cho chị 64.000.000 đồng. Bị cáo L khai đã chuyển khoản trả chị đủ 200.000.000 đồng là không đúng, không có căn cứ.

Chị Đỗ Thị D trình bày: Bị cáo L dùng thủ đoạn gian dối như cáo trạng đã mô tả để rủ chị góp vốn 647.000.000 đồng mua 04 lô đất ở khu C Thái Bình nhưng thực tế bị cáo L không mua lô đất nào. Khi chị D biết bị bị cáo L lừa dối đã đòi tiền nhưng bị cáo L không trả nên chị D mới yêu cầu bị cáo L phải viết giấy vay tiền nhưng bị cáo L không đồng ý mà bắt chị D phải viết biên bản thoả thuận góp vốn mua đất. Số tiền ghi trong biên bản thỏa thuận này là 742.000.000 đồng gồm: 647.000.000 đồng tiền chuyển khoản, đưa tiền mặt, 67.000.000 đồng góp vốn cùng với chị T mua lô đất số 27 và 28.000.000 đồng bị cáo L nói là khoản lãi từ việc bán lô đất số 27.

Anh Phạm Ngọc T1 trình bày: Do bị cáo L chủ động nói chuyện với anh T1 về việc có thể tác động tới ông O - Cán bộ địa chính phường K để lô đất số 13 của bà Phạm Thị L4 là mẹ đẻ anh T1 được ra quyết định giao đất nên anh T1 tin tưởng và đã đưa tiền mặt, chuyển khoản cho bị cáo L 363.000.000 đồng nhưng bị cáo L không làm thủ tục gì cho lô đất của bà L4 và chiếm đoạt số tiền này. Sáng 15/8/2024, người nhà bị cáo L đã tự nguyện bồi thường cho anh 50.000.000 đồng. Vì vậy, anh T1 đề nghị Toà án buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho anh số tiền còn lại đã chiếm đoạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • * Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
  • * Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; Điều 38; Điều 50; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng L từ 14 đến 16 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • * Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã trả cho chị Nguyễn Thị T 64.000.000 đồng nên buộc bị cáo phải tiếp tục trả cho chị T 136.000.000 đồng. Buộc bị cáo L phải trả cho chị Đỗ Thị D 647.000.000 đồng; đại diện gia đình bị cáo L đã trả cho anh Phạm Ngọc T1 50.000.000 đồng nên bị cáo L còn phải tiếp tục bồi thường cho anh T1 313.000.000 đồng.
  • * Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại Iphone 7 màu trắng, đã qua sử dụng, số máy MNQN2B/A, số Seri DX3W28PHG05, số IMEI: 35535308929632 bị cáo sử dụng để liên lạc, giao dịch liên quan đến hành vi lừa đảo nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước; 01 điện thoại Iphone 6 plus màu trắng, đã qua sử dụng, lắp sim số 0965492877, số IMEI: 352043074617832 không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.
  • * Án phí: Căn cứ Nghị quyết 326 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo tranh luận: Bị cáo không có ý kiến gì về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị, bị cáo chỉ có ý kiến về trách nhiệm bồi thường cho chị T vì bị cáo đã chuyển khoản toàn bộ số tiền 200.000.000 đồng trả cho chị T nên không chấp nhận tiếp tục bồi thường cho chị T 136.000.000 đồng nữa.

Luật sư Phạm Hữu G trình bày lời bào chữa cho bị cáo: Luật sư không có ý kiến tranh luận gì về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về các tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng đó là đã trả lại cho bị hại chị Nguyễn Thị T được một phần thiệt hại và trước khi mở phiên toà, gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại là anh Phạm Ngọc T1 50.000.000 đồng, anh T1 có đơn đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt, sớm được trở về với cộng đồng, gia đình và nuôi 03 con nhỏ.

Bị cáo Nguyễn Thị Hồng L đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa, không tranh luận bổ sung gì.

Bị hại chị Nguyễn Thị T tranh luận: Về tội danh chị T không có ý kiến gì, tuy nhiên về mức hình phạt chị T đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt 20 năm mới phù hợp. Bị cáo L cho rằng đã chuyển khoản trả chị 200.000.000 đồng là không đúng, bị cáo mới trả 64.000.000 đồng nên còn phải tiếp tục trả chị 136.000.000 đồng.

Bị hại chị Đỗ Thị D tranh luận: Về tội danh chị D không có ý kiến gì, tuy nhiên về mức hình phạt chị D đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt 18 năm mới phù hợp. Yêu cầu bị cáo L phải có trách nhiệm trả lại chị số tiền đã chiếm đoạt là 647.000.000 đồng.

Bị hại anh Phạm Ngọc T1 tranh luận: Về tội danh và mức hình phạt anh T1 không có ý kiến gì. Gia đình bị cáo đã bồi thường cho anh một phần hình phạt nên anh T1 đề nghị xem xét giảm hình phạt cho bị cáo L. Yêu cầu bị cáo L phải có trách nhiệm trả lại anh số tiền còn lại đã chiếm đoạt là 313.000.000 đồng.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo gửi lời xin lỗi đến các bị hại, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được trở lại cộng đồng làm việc trả nợ cho các bị hại và để nuôi các con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Các cơ quan tố tụng và những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng trình tự, thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng L do cần tiền để chi tiêu, đầu tư cá nhân đã dùng thủ đoạn đưa ra thông tin không có thật về việc bị cáo mua được lô đất số 27 và 04 lô đất khác của những người dân được giao đất tại khu quy hoạch dân cư thuộc Công ty cổ phần X và đưa ra thông tin gian dối về việc bị cáo có mối quan hệ để làm được quyết định giao đất và làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho lô đất số 13, để các bị hại tin tưởng bị cáo, góp tiền đầu tư mua đất, chuyển tiền cho bị cáo để làm thủ tục giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhằm chiếm đoạt tài sản của các bị hại với tổng số tiền chiếm đoạt là 1.210.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo khai báo quanh co, không thừa nhận về hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, bị cáo L thừa nhận có nói với chị D, chị T góp tiền để chung vốn mua các lô đất tại khu V nhưng thực tế bị cáo không hỏi mua và cũng không mua bất cứ lô đất nào, toàn bộ số tiền bị cáo nhận của bị hại đều đã sử dụng để cho người khác vay nhưng không nhớ đã cho ai vay. Bị cáo L thừa nhận đã nhận 360.000.000 đồng của anh T1 nhưng là để đầu tư mua đất chứ không phải để làm thủ tục giao lô đất số 13 cho bà Phạm Thị L4 (mẹ đẻ anh T1). Tại phần tranh luận, bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã chiếm đoạt tiền của các bị hại. Mặc dù, bị cáo khai báo quanh co về diễn biến, thủ đoạn lừa dối để chiếm đoạt tài sản của bị hại nhưng bằng các tài liệu chứng cứ khác như lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, cụ thể là toàn bộ sao kê tin nhắn Zalo giữa bị cáo và các bị hại và các giao dịch chuyển khoản nhận tiền của bị cáo nên có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Hồng L đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý phạm tội. Điều 174 Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm... 4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân: a, Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên...”. Như vậy, bị cáo chiếm đoạt tài sản của người khác với tổng giá trị là 1.210.000.000 đồng nên hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Hồng L đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

[3] Đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra thì thấy: Bị cáo L dùng thủ đoạn gian dối, lợi dụng sự cả tin của bị hại để chiếm đoạt tài sản của bị hại nhiều lần với số tiền lớn để phục vụ nhu cầu cá nhân của bị cáo nên bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là “Phạm tội nhiều lần”. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài để cải tạo, giáo dục bị cáo và để tuyên truyền, răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo đã nhận ra sai phạm của mình; xin lỗi các bị hại, bị cáo có bố đẻ bị cáo là người có công, trước phiên toà, gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại là anh Phạm Ngọc T1 50.000.000 đồng, anh T1 có đơn đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo nên bị được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để làm căn cứ giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, giúp bị cáo yên tâm cải tạo, trở thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự, bị cáo Nguyễn Thị Hồng L chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị T 200.000.000 đồng. Chỉ có căn cứ xác định bị cáo, đã trả chị T 64.000.000 đồng, việc bị cáo cho rằng đã trả chị T 200.000.000 đồng nhưng không có tài liệu chứng minh nên buộc bị cáo phải tiếp tục trả chị T 136.000.000 đồng; trước khi xét xử, gia đình bị cáo L đã tự nguyện bồi thường cho anh Phạm Ngọc T1 50.000.000 đồng nên buộc bị cáo phải tiếp tục trả cho anh Phạm Ngọc T1 313.000.000 đồng; buộc bị cáo phải trả cho chị Đỗ Thị D 647.000.000 đồng.

[5] Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại Iphone 7 màu trắng, đã qua sử dụng, số máy MNQN2B/A, số Seri DX3W28PHG05, số IMEI: 355353089296325, bị cáo sử dụng để nhắn tin, liên lạc với các bị hại để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Trả lại bị cáo 01 điện thoại Iphone 6 plus màu trắng, đã qua sử dụng, lắp sim số 0965492877, số IMEI: 352043074617832 do không liên quan đến tội phạm.

[6] Về các vấn đề khác trong vụ án: Trong quá trình điều tra, bị hại chị Đỗ Thị D trình bày khi bị cáo L rủ chị góp vốn mua lô đất, bị cáo L nói, cùng góp vốn còn có bà H làm việc tại Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T và ông D1 - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường K, bị cáo L gửi ảnh chụp màn hình điện thoại tin nhắn zalo thể hiện cuộc nói chuyện giữa bị cáo và bà H; hình ảnh người dân đến nhà bán đất cho bị cáo L; hình ảnh bị cáo chuyển tiền mua đất cho người dân; hình ảnh bị cáo cùng chồng là ông O ra ngân hàng vay tiền để mua đất. Tuy nhiên những hình ảnh trên bà D đều không còn lưu giữ. Cơ quan điều tra đã tiến hành ghi lời khai của bà Vũ Thị H1, sinh năm 1972, trú tại tổ A, phường T (là Phó Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T); ông Lương Thế D2, sinh năm 1978, trú tại tổ D, phường K (là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường K) và ông Nguyễn Văn O. Bà H1 và ông D2 đều trình bày các ông bà không quen biết, không góp vốn đầu tư đất cùng L. Ông O trình bày: Ông cùng quê và thân thiết với bị cáo L, hiện nay bị cáo L đang tạm trú tại nhà ông, ông không góp vốn đầu tư mua bán bất kỳ lô đất nào cùng bà Đỗ Thị D và cũng không mua bán bất kỳ lô đất nào cùng L. Việc bị cáo L đầu tư làm ăn chung cùng chị D, ông không quan tâm và không liên quan. Vì vậy không có căn cứ xác định bà H1, ông D2 và ông O có hành vi giúp sức cho bị cáo L trong quá trình lừa đảo các bị hại nên Cơ quan điều tra không xử lý những người này là đúng pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho các bị hại tổng số tiền là 1.096.000.000 đồng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; Điều 38; Điều 50; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng L 15 (mười lăm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 07/9/2023 .
  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Thị Hồng L phải trả chị Nguyễn Thị T 136.000.000 đồng; trả cho chị Đỗ Thị D 647.000.000 đồng; trả cho anh Phạm Ngọc T1 313.000.000 đồng.

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự, tịch thu 01 điện thoại Iphone 7 màu trắng, số máy MNQN2B/A, số Seri DX3W28PHG05, số IMEI: 355353089296325 để sung ngân sách Nhà nước. Trả lại bị cáo 01 điện thoại Iphone 6 plus màu trắng, lắp sim số 0965492877, số IMEI: 352043074617832.

    (Vật chứng có đặc điểm mô tả chi tiết theo Quyết định chuyển vật chứng số 33/QĐ-VKSTB ngày 04/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình).

  5. Án phí: Áp dụng các Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, bị cáo Nguyễn Thị Hồng L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 44.880.000 đồng đồng án phí dân sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 15/8/2024.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Cục THADS tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan điều tra CA tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Thái Bình;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 46/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hồng L phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger