Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HSST

Ngày 15/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Hà Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Phạm Thị Huếông Lê Đình Cự

Thư ký ghi biên bản phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:Bà Phạm Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2024/TLST - HS ngày 23/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST - HS ngày 02/5/2024 đối với:

Bị cáo: Hồ Trọng Đức H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;Sinh ngày16/9/1987; Tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình;

Nơi thường trú: thôn Tam Tri, xã Thụy Trường, huyện Thái Thụy,Thái Bình;

Nơi ở: thôn Đồng Cống, xã Minh Phú, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Hồ Trọng L, sinh năm 1962; Mẹ đẻ Nguyễn Thị C, sinh năm 1964;Vợ: Phạm Thị T, sinh năm 1992; Con: có 3 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2019;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 22/01/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.

( Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa)

Người chứng kiến:

- Ông Trần Duy P, sinh năm 1995,

Địa chỉ: Thôn D, xã M huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

- Ông Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1960

Địa chỉ: Thôn L, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

(Đều vắng mặt)

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến vụ án tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy và nghe bạn bè nói ở khu vực cầu Đ, xã L có người bán ma túy nên khoảng 13 giờ 30 phút ngày 16/01/2024, H đi bộ từ nhà ở thôn Đ, xã M ra trục đường xã đi nhờ xe của một người qua đường không quen biết đến khu vực ngã tư M, huyện Đ mục đích mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, H xuống xe đi bộ theo hướng vào xã L, khi đến chân cầu Đ thì gặp một người đàn ông như bạn mô tả đeo khẩu trang, không biết tên, địa chỉ đứng ở cạnh bờ sông, H lại gần hỏi “Bán cho em 300.000 đồng ma túy đá” và đưa tiền cho người này, người này nhận tiền và đưa lại cho H 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu xanh, bên trong có chứa chất dạng tinh thể trong suốt là ma túy đá; H cầm gói ma túy vừa mua được ở lòng bàn tay trái, sau đó đi bộ quay trở lại theo hướng ra ngã tư xã M mục đích tìm xe đi nhờ về thì bị tổ công tác của Công an huyện Đ phát hiện, nghi ngờ H có liên quan đến ma túy, yêu cầu H dừng lại để kiểm tra. Cơ quan Công an đã mời anh Trần Duy P và ông Nguyễn Ngọc H1, chứng kiến; sau khi được nghe giải thích quyền và nghĩa vụ, trước sự chứng kiến của mọi người, H đã tự nguyện lấy từ lòng bàn tay trái giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu xanh, bên trong có chứa chất dạng tinh thể trong suốt, H khai là ma túy đá vừa mua về để sử dụng. Tiến hành kiểm tra người H không thu giữ, quản lý gì khác. Tổ công tác đã đưa H cùng vật chứng và mời những người chứng kiến về trụ sở Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, quản lý, niêm phong vật chứng theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Hồ Trọng Đức H tại thôn Đ, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, không phát hiện, thu giữ gì.

Tại bản kết luận giám định số 91/KL- KTHSngày 22/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1450 gam(Không phẩy một nghìn bốn trăm năm mươi gam).

Cáo trạng số 54/CT-VKSĐH ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tốbị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòađại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưnggiữ nguyên toàn bộ cáo trạng đã truy tố đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51;Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” phạt bị cáo H mức hình phạt từ 01(một) năm 03(ba) tháng – 01( một) năm 06 (sáu) tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử, xử lý vật chứng và án phí.

3

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo xác định Cáo trạng truy tố bị cáo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng pháp luật vì vậy không trình bày lời bào chữa, cũng không trình bày ý kiến tranh luận về tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, điều luật áp dụng, mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị.

Khi nói lời sau cùng: Bị cáo biết việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo được sớm trở về với gia đình. Bị cáo hứa sẽ cải tạo tốt.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi quyết định tố tụng:Các tài liệu chứng cứ do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án đã tuân thủ các quy định của pháp luật. Đó là các tài liệu hợp pháp chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Căn cứ vào các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ xác định có tội, căn cứ xác định vô tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với Cáo trạng số54/CT-VKSĐH ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố.

Lời khai của bị cáo còn phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang do Công an huyện Đ lập hồi15 giờ 15 phút ngày 16/01/2024tại trụsở Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, phù hợp với Kết luận giám định số 91/KL- KTHS ngày 22/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, phù hợp với lời khai của người chứng kiến là ông Nguyễn Ngọc H1 và ông Trần Duy P1 các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do vậy có đủ cơ sở kết luận:Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 16/01/2024, tại trục đường thôn L, xã M, huyện Đ, Hồ T, có hành vi tàng trữ trái phép 0,1450 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích sử dụng bị Công an huyện Đ bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tạiđiểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249.Tàng trữ trái phép chất ma túy

4

1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

c. Heroine, cocain, methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR -1lcó khối lượng từ 0,1gam đến 05 gam;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

[3] Về tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an ninh an toàn xã hội. Bản thân bị cáo biết tác hại của ma túy, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là bất hợp pháp nhưng vẫn tàng trữ ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân.Vì vậy, việc đưa vụ án ra xét xử là cần thiết và cần áp dụng một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1Điều 51Bộ luật hình sự.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

[5] Về hình phạt bổ sung:Bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng, là lao động tự do không có thu nhập ổn định. Do vậy không nhất thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]Về xử lý vật chứng:Số ma túy loại Methamphetamine thu giữ của bị cáo là chất Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

[7]Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8]Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định

Về nguồn gốc ma tuý: Theo bị cáokhai mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi không biết tên và địa chỉ tại khu vực cầu Đ thuộc địa phận xã M, huyện Đ xác định được người bán nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với số tiền 300.000 đồng mua ma túy là do bị cáo lao động mà có.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

5

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hồ Trọng Đức H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51,Điều 38, Điều 50Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Hồ Trọng Đức H 01(một) năm06(sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 16/01/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự.

    Tịch thu, tiêu hủy 0,1173gam(Không phẩy một nghìn một trăm bảy mươi ba gam)ma túy loại Methamphetamineđược niêm phong trong phong bì do Phòng K Công an tỉnh T hoàn trả mẫu vật sau giám định,có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng ngày 23/4/2024.

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Hồ Trọng Đức H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáocó quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, ngày 15/5/2024.

Nơi nhân:

  • - Bị cáo;
  • - Công an huyện Đông Hưng;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyệnĐông Hưng;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Đông Hưng;
  • - UBND xã Minh Phú, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu: Hồ sơ, văn phòng;

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hà Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HSST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 46/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ TRọng Đức H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger