Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HS-ST

Ngày: 14-5-2024

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Huy Trụ
  2. Ông Vũ Hùng Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Vũ Hồng Anh– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì tham gia phiên tòa: Ông Đặng Trần Thành- Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2024/TLST-HS, ngày 15 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trịnh Hữu N, sinh ngày 21/6/1983; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Xóm B, thôn C, xã T, huyện N, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Hữu N1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1952; Vợ: Lê Thị Lan P, sinh năm 1987 và có có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/02/2024 đến ngày 04/3/2024, được thay đổi biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại tại xã T, huyện N, tỉnh Nam Định Có mặt

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lưu Đình T - sinh năm: 1978 - Luật sư Văn phòng Lthuộc Đoàn Luật sư thành phố địa chỉ: Số nhà A, ngõ D phố D, phường M, quận C, thành phố Hà NộiCó mặt

Bị hại: Chị Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 1977, hộ khẩu thường trú: Thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt - có đơn xin vắng mặt)

Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Ngọc Hsinh năm 1985; Nơi cư trú: Phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ
  2. Ông Nguyễn Mạnh cính năm 1965; Nơi cư trú: Khu E, thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ

(Ông Hông C đều có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ ngày 26/02/2024, Trịnh Hữu N, sinh năm 1983, hộ khẩu thường trú: Xóm B, thôn C, xã T, huyện N, tỉnh Nam Định, đi xe khách từ nhà đến thành phố V, tỉnh Phú Thọ để tìm việc làm. Do chưa tìm được việc làm và cần tiền chi tiêu cá nhân nên khoảng 16 giờ cùng ngày, N đi bộ đến Ngân hàng thương mại cổ phần C1 (ngân hàng V1) chi nhánh B tại số C, đường H thuộc khu A, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ với mục đích trộm cắp tài sản. N đi vào thang máy ở tầng 1 của ngân hàng rồi bấm thang máy đi lên tầng 4. Khi đến tầng 4, N quan sát thấy không có người và các phòng đều không mở cửa. Nhiệm tiếp tục đi cầu thang bộ lên tầng 5 của ngân hàng thì thấy phòng truyền thống của ngân hàng đang mở cửa và không có người. Nhiệm đi vào phòng thì thấy tại chiếc đĩa trên bàn thờ có đặt nhiều tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng, 100.000 đồng và 50.000 đồng, tổng cộng là 3.100.000 đồng. Số tiền này là của chị Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 1977, hộ khẩu thường trú: Thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ, là trưởng phòng tổ chức - hành chính của ngân hàng đặt để làm lễ tại bàn thờ. Nhiệm dùng tay phải lấy toàn bộ số tiền trên đĩa rồi cất giấu vào trong giày bên trái của N rồi đi thang máy xuống tầng 1 và đi ra cổng của ngân hàng. Lúc này, anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1985, HKTT: Phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, là nhân viên của ngân hàng đang làm việc tại khu vực tầng 1 của ngân hàng nhìn thấy N có biểu hiện nghi vấn nên anh H đi theo N ra đến khu vực vỉa hè của đường H và yêu cầu N đứng lại. Sau đó, anh H sử dụng điện thoại di động của mình kiểm tra hệ thống camera an ninh thì phát hiện N đi vào bên trong phòng truyền thống một lúc rồi đi ra. Nghi ngờ Nhiệm trộm cắp tài sản nên anh H đã trình báo sự việc đến Công an phường V, thành phố V đến để giải quyết vụ việc. Tại chỗ, N tự nguyện giao nộp toàn bộ số tiền trộm cắp là 3.100.000 đồng, gồm: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng, 08 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng, 09 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng, 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng được cất giấu tại giày bên trái của N. Công an phường V đã lập biên bản sự việc, tạm giữ số tiền 3.100.000 đồng và 01 đôi giày da nam màu đen của N. Sau khi lập biên bản đã chuyển hồ sơ đến Cơ quan điều tra Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V, bị cáo N đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 47/CT-VKS ngày 11/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Trịnh Hữu N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.

  • + Tuyên bố bị cáo Trịnh Hữu N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • + Xử phạt bị cáo Trịnh Hữu N từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Trừ cho bị cáo 07 tạm giữ (từ ngày 26/02/2024 đến ngày 04/3/2024), quy đổi thành 21 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo N còn phải chấp hành 08 tháng 09 ngày đến 11 tháng 09 ngày cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự - Công an huyện N, tỉnh Nam Định nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Trịnh Hữu N cho UBND xã Thuyện N, tỉnh Nam Định để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo, buộc bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự

  • + Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • + Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Thu T1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì nên không phải giải quyết.
  • + Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • Xác nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Thu T1 số tiền 3.100.000đ tiền Việt Nam đồng.
    • Tịch thu để tiêu hủy: 01 đôi giày da nam màu đen (đã cũ) không còn giá trị sử dụng.
  • + Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trịnh Hữu N phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Người bào chữa cho bị cáo N là ông Lưu Đình T trình bày quan điểm: Luật sư nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, tính chất, hành vi phạm tội, loại hình phạt áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo Trịnh Hữu N. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Bị cáo Trịnh Hữu N không tranh luận, không bào chữa gì, thừa nhận và ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng hình sự: Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của Điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Về căn cứ buộc tội: Lời khai của bị cáo Trịnh Hữu N tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ, nên có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 16 giờ ngày 26/02/2024, tại Ngân hàng thương mại cổ phần C1(ngân hàng Vlchi nhánh Bcó địa chỉ tại số C, đường H thuộc khu A, phường V, thành phố V, tỉnh Phú ThọTrịnh Hữu Nđã có hành vi trộm cắp số tiền 3.100.000 đồng của chị Nguyễn Thị Thu T1Số tiền trộm cắp đã được thu hồi và trả lại cho bị hại.

Hành vi trộm cắp tài sản là số tiền 3.100.000đ của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định:

“Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Do vậy, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất ổn định tình hình trị an và lo lắng cho người dân. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự vì thiếu tu dưỡng, rèn luyện bản thân muốn có tiền tiêu sài mà không phải do lao động nên cố tình thực hiện hành vi phạm tội.

[4]. Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án tiền sự.

[5]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có bố đẻ là ông Trịnh Hữu N1 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, trên cơ sở phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm và tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân có ích cho xã hội, nên cần xử phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[6]. Về khấu trừ thu nhập: Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật hình sự, thì trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung công quỹ Nhà nước. Căn cứ kết quả xác minh, lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo đều là lao động tự do, việc làm và thu nhập không ổn định. Do vậy, cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo, buộc bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự, thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng; Kết quả xác minh của Cơ quan Điều tra, lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản mà bị cáo trộm cắp, bị hại đã nhận lại, và không yêu cầu bồi thường gì nên không phải giải quyết.

[7]. Về xử lý vật chứng:

Đối với tài sản bị trộm cắp là số tiền 3.100.000 đồng tiền Việt nam đồng, Cơ quan điều tra – Công an thành phố V đã trả lại cho bị hại là chị Nguyễn Thị Thu T1 là hợp pháp cần xác nhận.

Đối với 01 đôi giày da nam màu đen (đã cũ) là đồ dùng cá nhân của bị cáo không còn giá trị sử dụng nên tịch thu để tiêu hủy.

[8]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Hữu N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt:

    Xử phạt bị cáo Trịnh Hữu N 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Trừ cho bị cáo 07 ngày tạm giữ (từ ngày 26/02/2024 đến ngày 04/3/2024), quy đổi thành 21 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo N còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ.

    Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự - Công an huyện N, tỉnh Nam Định nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

    Giao bị cáo Trịnh Hữu N cho UBND xã Thuyện N, tỉnh Nam Định để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án.

    Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo, buộc bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

    Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

    Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Không phải giải quyết.
  4. Về xử lý vật chứng:
    • - Xác nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Thu T1 số tiền 3.100.000₫ (Ba triệu một trăm nghìn đồng).
    • (Biên bản giao trả lại tài sản ngày 12/3/2024)
    • - Tịch thu để tiêu hủy: 01 đôi giày da nam, đã cũ màu đen có kích thước tương tự nhau dài 30cmx rộng 10cm của bị cáo N.
    • (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/4/2024 tại chi Cục thi hành án dân sự Thành phố Việt Trì).
  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trịnh Hữu N phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Bị hại; Luật sư;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKS TP. Việt Trì;
  • - Công an TP. Việt Trì;
  • - Chi cục THADS tp Việt Trì;
  • - UBND xã Tân Thịnh, H.Nam Trực, T. Nam Định;
  • - Lưu: Hồ sơ; AV./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 46/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Hữu N phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger