|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH Bản án số: 46/2024/HNGĐ-ST. Ngày: 13-8-2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Hà.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trương Hoàng Sơn;
- Ông Hoàng Văn Hữu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Tuyết Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 320/2024/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị L, sinh năm 1996; HKTT: Tổ 6, ấp 3, xã N, huyện C, tỉnh Tây Ninh; hiện cư trú tại: Ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
Bị đơn: Anh C, sinh năm 1993; HKTT: Khu phố N, T, huyện C, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 05 tháng 7 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị L trình bày:
Về hôn nhân: Chị L và anh C tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện C, tỉnh Tây Ninh vào năm 2020. Quá trình chung sống không hạnh phúc do thường xuyên bất đồng quan điểm, anh C không chăm lo làm ăn cho gia đình. Chị L đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng vẫn không thể tiếp tục chung sống nên nay chị yêu cầu được ly hôn với anh C.
Về con chung: Chị L và anh C có một con chung tên P, sinh ngày 20/4/2017. Nếu ly hôn chị L có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung, chị không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 24 tháng 7 năm 2024, bị đơn anh C trình bày:
Về hôn nhân: Anh C thống nhất với lời trình bày của chị L về thời gian chung sống vợ chồng và có đăng ký kết hôn. Nay chị L yêu cầu ly hôn anh đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh và chị L có một con chung tên P, sinh ngày 20/4/2017. Nếu ly hôn anh đồng ý giao con chung cho chị L nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh C không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Chị L và anh C có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã tuân thủ theo trình tự thủ tục, thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- + Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 146, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị L và anh C.
- + Về con chung: Giao cháu P cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận chị L không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
- + Tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết
- + Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị L và anh C có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị L và anh C.
[2] Về hôn nhân:
[2.1] Chị L và anh C tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện C, tỉnh Tây Ninh vào năm 2020. Căn cứ Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử nhận định đây là hôn nhân hợp pháp.
[2.2] Xét yêu cầu ly hôn của chị L, thấy rằng: Chị L yêu cầu ly hôn, anh C đồng ý ly hôn. Do hiện nay anh C đang được quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Tây Ninh nên anh C xin vắng mặt tại buổi hoà giải và trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Anh C nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý; ngày 01/8/2024 bị Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh C ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L đối với anh C.
[3] Về nuôi con chung: Chị L và anh C có một con chung tên P, sinh ngày 20/4/2017. Chị Linh và anh Cường thống nhất giao cháu P cho chị L nuôi dưỡng, cháu P có nguyện vọng được sống cùng với chị L nên Hội đồng xét xử xét thấy giao cháu P cho chị L nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật, ghi nhận chị L không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị L và anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về án phí: Chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị L và anh C.
- Về nuôi con chung: Giao chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu P, sinh ngày 20/4/2017. Ghi nhận chị L không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, anh C có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị L và anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0006432 ngày 05 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; chị L đã nộp đủ tiền án phí.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Hồng Hà |
Bản án số 46/2024/HNGĐ-ST ngày 13/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 46/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con
