Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 46/2024/DS-ST

Ngày 13 tháng 7 năm 2024

V/v “Tranh chấp về yêu cầu tuyên bố

văn bản phân chia di sản thừa kế vô hiệu”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Vượng.

2. Bà Hoàng Thị Hồng.

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 13/7/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 146/2023/TLST-DS ngày 12/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-DS ngày 26/4/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2024/QĐST-DS ngày 24/5/2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 21/2024/QĐST-DS ngày 24/6/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N - Sinh năm 1971

    Địa chỉ: Số nhà B, ngách H, ngõ B, tổ M, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

    Người đại diện theo uỷ quyền của bà N: Ông Nguyễn Văn D - Sinh năm 1964; Địa chỉ: Thôn T, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Theo Giấy uỷ quyền ngày 21/11/2023).

    (Ông D có mặt)

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Q - Sinh năm 1964.

    Địa chỉ: Thôn T, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

    (Bà Q có mặt)

  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    • - Chị Nguyễn Thị M - Sinh năm 1984.

      Địa chỉ: Số nhà A, Đường L, Phường N, quận C, Thành phố Hà Nội.

      (Chị M có mặt)

    • - Anh Nguyễn Văn K - Sinh năm 1985.

      HKTT: Thôn T, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

      Hiện đang chấp hành án tại trại giam N1, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

      (Anh K vắng mặt)

    • - Bà Nguyễn Thị H - Sinh năm 1960.

      Địa chỉ: Thôn P, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

      (Bà H có mặt)

    • - Ông Nguyễn Văn D - Sinh năm 1964.

      Địa chỉ: Thôn T, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

      (Ông D có mặt)

    • - Bà Nguyễn Thị Đ - Sinh năm 1974.

      Địa chỉ: Số B, ngõ I, đường C, tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

      (Bà Đ có mặt)

    • - Bà Đỗ Thị H1 (tên khác H2), sinh năm 1974.

    • - Anh Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1996.

      Đều địa chỉ: Thôn T, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

      (Bà H1 có mặt, anh Q1 có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án)

    • - Văn phòng C1.

      Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Anh H3 - Trưởng văn phòng.

      (Xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N (do ông Nguyễn Văn D là người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng) trình bày:

Bố bà là Nguyễn Văn P (sinh năm 1938, chết năm 2020) và mẹ bà là Lê Thị H4 (sinh năm 1938, chết năm 2009) trong quá trình chung sống có một thửa đất tại thôn T, xã S, thành phố B. Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn P, Lê Thị H4. Năm 1981, bố mẹ bà xây ngôi nhà cấp 4 trên đất. Bố mẹ bà có 6 người con nhưng đến khi trưởng thành, có gia đình riêng thì ai cũng có nhà đất riêng nên không ai ở cùng bố mẹ bà.

Năm 2008, do ly hôn nên bà cùng hai con được bố mẹ bà cho về ở cùng nhà đất trên. Ngày 10/8/2008, bố mẹ bà có mở một cuộc họp gia đình. Tại cuộc họp gia đình, bố mẹ bà cùng tất cả các thành viên trong gia đình bà đều đồng ý cho bà một phần đất. Cuộc họp gia đình đó đã được ghi lại và tất cả những người tham dự trong cuộc họp đều ký tên vào biên bản họp. Bố mẹ bà đã giao quyền điều hành cho con trai cả là ông K1 phải có trách nhiệm về phần đất của ba mẹ con bà. Sau cuộc họp gia đình, mẹ bà bệnh nặng và qua đời ngày 04/6/2009. Ngày 30/12/2009, bà đi lao động nước ngoài. Trong thời gian bà đi lao động nước ngoài, bà thường xuyên gọi điện về gia đình và gọi điện cho ông K1. Bà nhiều lần giục ông K1 tách đất cho mẹ con bà nhưng ông K1 đều không tách đất, đến năm 2011 thì cắt đứt liên lạc với bà. Mãi sau này bà mới biết ông K1 đã tự ý sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bố mẹ bà thành tên của mình. Các anh chị em trong gia đình bà không ai biết và không ai ký bất kỳ giấy tờ gì để ông K1 được sang tên tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Bà khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang giải quyết:

  • Yêu cầu tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011 được Công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng: 577/2011 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu.
  • Yêu cầu Tòa án xác định thửa đất số 91, tờ bản đồ số 59, diện tích 483,4m² tại thôn T, xã S, thành phố B là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn P và cụ Lê Thị H4 để lại chưa chia.
  • Yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn P và cụ Lê Thị H4 thành 6 kỷ phần bằng nhau cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ P, cụ H4. Mỗi kỷ phần khoảng 80,5m² đất. Đối với kỷ phần của bà, bà yêu cầu nhận kỷ phần bằng hiện vật.

Ngày 17/11/2023, bà xin rút các yêu cầu khởi kiện như sau: Yêu cầu Tòa án xác định thửa đất số 91, tờ bản đồ số 59, diện tích 483,4m² tại thôn T, xã S, thành phố B là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn P và cụ Lê Thị H4 để lại chưa chia. Yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn P và cụ Lê Thị H4 thành 6 kỷ phần bằng nhau cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ P, cụ H4. Mỗi kỷ phần khoảng 80,5m² đất. Đối với kỷ phần của bà, bà yêu cầu nhận kỷ phần bằng hiện vật.

Bà giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là: yêu cầu Toà án tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011 được Công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng: 577/2011 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu. Bà đã được Toà án giải thích rõ về hậu quả của Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu. Bà không yêu cầu Toà án giải quyết hậu quả của Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu, không yêu cầu chia di sản thừa kế, không yêu cầu gì về bồi thường thiệt hại

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà là con gái cụ Nguyễn Văn P (sinh năm 1938, chết năm 2020) và cụ Lê Thị H4 (sinh năm 1938, chết năm 2009). Bố mẹ bà có 6 người con là: Nguyễn Văn K2, sinh năm 1963; Nguyễn Văn D, sinh năm 1964; Nguyễn Thị H, sinh năm 1960; Nguyễn Thị N, sinh năm 1971; Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1973; Nguyễn Văn K3, sinh năm 1967 (chết năm 2006).

Bố mẹ bà trong quá trình chung sống có một thửa đất tại thôn T, xã S, thành phố B. Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn P, Lê Thị H4. Năm 1981, bố mẹ bà xây ngôi nhà cấp 4 trên đất. Bố mẹ bà có 6 người con nhưng đến khi trưởng thành, có gia đình riêng thì ai cũng có nhà đất riêng nên không ai ở cùng bố mẹ bà.

Ngày 10/8/2008, bố mẹ bà có mở một cuộc họp gia đình. Tại cuộc họp gia đình, bố mẹ bà cùng tất cả các thành viên trong gia đình bà đều đồng ý cho bà N một phần đất (vì khi đó bà N ly hôn chồng, phải mang con về nhà bố mẹ đẻ ở). Cuộc họp gia đình đó đã được ghi lại và tất cả những người tham dự trong cuộc họp đều ký tên vào biên bản họp. Bố mẹ bà đã giao quyền điều hành gia đình cho con trai cả là ông K2 phải có trách nhiệm về phần đất của bà N. Khoảng một thời gian sau (cụ thể ngày tháng năm nào bà không nhớ rõ), ông K2 có đưa cho bà một tờ giấy, bảo bà ký. Ông K2 nói văn bản này có nội dung giống với văn bản họp gia đình ngày 10/8/2008. Do tin tưởng nên bà đã ký văn bản đó mà không đọc lại nội dung văn bản.

Bà đã được Toà án cho xem Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011 được Công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng: 577/2011 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD. Bà xác nhận chữ ký “H-Nguyễn Thị H” đúng là chữ ký của bà nhưng bà không nhớ và không chắc Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011 có phải là văn bản ông K2 đưa cho bà hay không.

Từ trước đến nay, các thành viên trong gia đình đều nghĩ rằng ông K2 sẽ thực hiện theo đúng ý nguyện của bố mẹ bà, sẽ tách cho bà N một phần đất. Mãi đến sau này, bà mới được biết việc ông K2 đã được sang tên hoàn toàn tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất diện tích 483,4m² và cũng không tách đất cho bà N.

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà N về yêu cầu tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011 được Công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng: 577/2011 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu, quan điểm của bà là nhất trí. Vì thời điểm ký Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011, bà N không có nhà (đi lao động bên nước ngoài).

Bà đã được Toà án giải thích rõ về hậu quả của Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu. Bà không yêu cầu Toà án giải quyết hậu quả của Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu, không yêu cầu chia di sản thừa kế, không yêu cầu gì về bồi thường thiệt hại

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị H1 (tên khác H2) trình bày:

Bà là con dâu cụ Nguyễn Văn P (sinh năm 1938, chết năm 2020) và cụ Lê Thị H4 (sinh năm 1938, chết năm 2009), là vợ ông Nguyễn Văn K3, sinh năm 1967 (chết năm 2006). Ông K3 là con cụ P, cụ H4.

Bố mẹ chồng bà trong quá trình chung sống có một thửa đất diện tích 622,1 m² tại thôn T, xã S, thành phố B. Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn P, Lê Thị H4. Năm 1981, cụ P cụ H4 xây ngôi nhà cấp 4 trên đất.

Năm 2006, chồng bà ông K3 chết. Sau khi ông K3 chết khoảng 6 tháng sau, cụ P cụ H4 có tách cho bà và con trai Nguyễn Văn Q1 một thửa đất diện tích khoảng hơn 138.7m². Bà đã làm nhà và sinh sống tại nhà đất trên. Phần diện tích đất còn lại của bố mẹ chồng bà là 483,4m².

Ngày 10/8/2008, cụ P cụ H4 có mở một cuộc họp gia đình. Tại cuộc họp gia đình, tất cả các thành viên trong gia đình đều đồng ý cho bà N một phần đất (vì khi đó bà N ly hôn chồng, phải mang con về nhà bố mẹ đẻ ở) trong tổng số diện tích đất còn lại của bố mẹ chồng bà là 483,4m². Cuộc họp gia đình đó đã được ghi lại và tất cả những người tham dự trong cuộc họp đều ký tên vào biên bản họp. Bố mẹ chồng bà đã giao quyền điều hành gia đình cho con trai cả là ông K2 phải có trách nhiệm về phần đất của bà N.

Từ trước đến nay, bà cũng như các con của ông P, bà H4 đều nghĩ rằng ông K2 sẽ thực hiện theo đúng ý nguyện của bố mẹ bà, sẽ tách cho bà N một phần đất. Mãi đến sau này, bà mới được biết việc ông K2 đã được sang tên hoàn toàn tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất diện tích 483,4m² và cũng không tách đất cho bà N.

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà N về yêu cầu tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011 được Công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng: 577/2011 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu, quan điểm của bà là nhất trí. Vì thời điểm ký Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011, bà N không có nhà (đi lao động nước ngoài). Ngoài ra, văn bản đó còn thiếu chữ ký của bà với tư cách người đại diện theo pháp luật của anh Nguyễn Văn Q1, anh Nguyễn Văn C (con trai của bà và ông K3) vì khi đó anh Q1, anh C là người thừa kế thế vị của ông Nguyễn Văn K3 nhưng chưa đủ 18 tuổi. Con trai của bà và ông K3Nguyễn Văn C sinh năm 2001, đã chết ngày 27/01/2023. Người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của anh C chỉ có bà, ngoài ra không có ai khác.

Trường hợp nếu Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011 được Công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng: 577/2011 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu đối với phần của ông K3, bà không yêu cầu Toà án xác định phần di sản thừa kế của những người thừa kế thế vị của ông K3 (anh Q1, anh C) trong khối di sản thừa kế của cụ P, cụ H4 để lại; không yêu cầu chia di sản thừa kế; không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Đ trình bày:

Bà là con gái cụ Nguyễn Văn P (sinh năm 1938, chết năm 2020) và cụ Lê Thị H4 (sinh năm 1938, chết năm 2009). Bố mẹ bà trong quá trình chung sống có một thửa đất tại thôn T, xã S, thành phố B. Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn P, Lê Thị H4. Năm 1981, bố mẹ bà xây ngôi nhà cấp 4 trên đất. Bố mẹ bà có 6 người con là nhưng đến khi trưởng thành, có gia đình riêng thì ai cũng có nhà đất riêng nên không ai ở cùng bố mẹ bà.

Ngày 10/8/2008, bố mẹ bà có mở một cuộc họp gia đình. Tại cuộc họp gia đình, bố mẹ bà cùng tất cả các thành viên trong gia đình đều đồng ý cho bà N một phần đất (vì khi đó bà N ly hôn chồng, phải mang con về nhà bố mẹ đẻ ở). Cuộc họp gia đình đó đã được ghi lại và tất cả những người tham dự trong cuộc họp đều ký tên vào biên bản họp. Bố mẹ bà đã giao quyền điều hành gia đình cho con trai cả là ông K2 phải có trách nhiệm về phần đất của bà N.

Bà đã được Toà án cho xem Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011 được Công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng: 577/2011 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD. Bà xác nhận chữ ký “Đ-Nguyễn Thị Đ” không phải là chữ ký của bà.

Từ trước đến nay, gia đình bà đều nghĩ rằng ông K2 sẽ thực hiện theo đúng ý nguyện của bố mẹ bà, sẽ tách cho bà N một phần đất. Mãi đến sau này, bà mới được biết việc ông K2 đã được sang tên hoàn toàn tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất diện tích 483,4m² và cũng không tách đất cho bà N.

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà N về yêu cầu tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011 được Công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng: 577/2011 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu, quan điểm của bà là nhất trí. Vì thời điểm ký Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011, bà N không có nhà (đi lao động bên nước ngoài). Ngoài ra, văn bản đó còn thiếu chữ ký của những người thừa kế thế vị của ông Nguyễn Văn K3 vì ông K3 chết năm 2006, chết trước cụ H4 nên các con của ông K3 (do vợ ông K3 là người đại diện) là những người thừa kế thế vị của ông K3 cũng phải ký văn bản thì mới có giá trị.

Bà đã được Toà án giải thích rõ về hậu quả của Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu. Bà không yêu cầu Toà án giải quyết hậu quả của Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu, không yêu cầu chia di sản thừa kế, không yêu cầu gì về bồi thường thiệt hại

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn D trình bày:

Ông là con trai cụ Nguyễn Văn P (sinh năm 1938, chết năm 2020) và cụ Lê Thị H4 (sinh năm 1938, chết năm 2009). Bố mẹ ông trong quá trình chung sống có một thửa đất tại thôn T, xã S, thành phố B. Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn P, Lê Thị H4. Năm 1981, bố mẹ ông xây ngôi nhà cấp 4 trên đất. Bố mẹ ông có 6 người con là nhưng đến khi trưởng thành, có gia đình riêng thì ai cũng có nhà đất riêng nên không ai ở cùng bố mẹ ông.

Ngày 10/8/2008, bố mẹ ông có mở một cuộc họp gia đình. Tại cuộc họp gia đình, bố mẹ ông cùng tất cả các thành viên trong gia đình đều đồng ý cho bà N một mảnh đất (vì khi đó bà N ly hôn chồng, phải mang con về nhà bố mẹ đẻ ở). Cuộc họp gia đình đó đã được ghi lại và tất cả những người tham dự trong cuộc họp đều ký tên vào biên bản họp. Bố mẹ ông đã giao quyền điều hành gia đình cho con trai cả là ông K2 phải có trách nhiệm về phần đất của bà N.

Ông đã được Toà án cho xem Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011 được Công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng: 577/2011 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD. Ông xác nhận chữ ký “D-Nguyễn Văn D” không phải là chữ ký của ông.

Từ trước đến nay, gia đình ông đều nghĩ rằng ông K2 sẽ thực hiện theo đúng ý nguyện của bố mẹ ông, sẽ tách cho bà N một phần đất. Mãi đến sau này, ông mới được biết việc ông K2 đã được sang tên hoàn toàn tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất diện tích 483,4m² và cũng không tách đất cho bà N.

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà N về yêu cầu tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011 được Công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng: 577/2011 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu, quan điểm của ông là nhất trí. Vì thời điểm ký Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011, bà N không có nhà (đi lao động bên nước ngoài). Ngoài ra, văn bản đó còn thiếu chữ ký của những người thừa kế thế vị của ông Nguyễn Văn K3 vì ông K3 chết năm 2006, chết trước bà H4 nên các con của ông K3 (do vợ ông K3 là người đại diện) là những người thừa kế thế vị của ông K3 cũng phải ký văn bản thì mới có giá trị.

Ông đã được Toà án giải thích rõ về hậu quả của Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu. Ông không yêu cầu Toà án giải quyết hậu quả của Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu, không yêu cầu chia di sản thừa kế, không yêu cầu gì về bồi thường thiệt hại

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn K trình bày:

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N, quan điểm của anh là không nhất trí vì anh muốn làm theo di nguyện của ông anh là cụ Nguyễn Văn P và bố anh lag ông Nguyễn Văn K2 để lại tài sản làm nhà thờ tổ tiên. Ngoài ra anh không có yêu cầu hay ý kiến gì khác.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Văn phòng C1 trình bày:

Ngày 14/11/2011, văn phòng C2 (nay là văn phòng C1) có nhận được yêu cầu công chứng toàn bộ hồ sơ của các ông, bà: Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn K2, Nguyễn Văn D, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Đ cùng trú tại: xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Các ông bà trên yêu cầu công chứng văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế của bà Lê Thị H4 (bà H4 đã chết ngày 04/6/2009). Di sản của bà H4 là thửa đất số 91, tờ bản dố số 59 địa chỉ: thôn T, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Quá trình tiếp nhận và giải quyết hồ sơ, căn cứ Điều 35, 36, 37,49 Luật Công chứng 2006 và các Điều 106,188 luật đất đai 2003, Điều 631, 674, 675, 676 Bộ luật dân sự năm 2005. Công chứng viên Vũ Anh H3 đã tiến hành chứng nhận văn bản theo đúng quy định của pháp luật.

*Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Q và chị Nguyễn Thị M không nộp bản tự khai, không cung cấp lời khai cho Toà án, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải.

Ngày 08/7/2024, Tòa án đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với chữ viết, chữ ký “Nguyễn Thị N; D-Nguyễn Văn D; Đ-Nguyễn Thị Đ” trong “Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011”. Tại Kết luận giám định số 1513/KL-KTHS ngày 11/07/2024 của Phòng K4 Công an tỉnh B kết luận:

  • Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung “D-Nguyễn Văn D” dưới các mục “Những người thừa kế” ở trang 2 và chữ ký có nội dung “D” ở cuối trang 01 trên các tài liệu cần giám định so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn D trên các tài liệu mẫu là do cùng một người ký, viết ra.
  • Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung “Đông-Nguyễn Thị Đ” dưới các mục “Những người thừa kế” ở trang 2 và chữ ký có nội dung “Đông” ở cuối trang 01 trên các tài liệu cần giám định so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị Đ trên các tài liệu mẫu là do cùng một người ký, viết ra.
  • Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung “Nguyễn Thị N” dưới các mục “Những người thừa kế” ở trang 2 và chữ ký có nội dung “Nhẫn” ở cuối trang 01 trên các tài liệu cần giám định so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị N trên các tài liệu mẫu là không phải do cùng một người ký, viết ra.

*Tại Công văn số 3290/QLXNC ngày 13/11/2023, Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh B cung cấp:

Qua tra cứu thông tin trong cơ sở dữ liệu của Cục Q2, Bộ C3 được biết: Nguyễn Thị N sử dụng hộ chiếu phổ thông xuất nhập cảnh 02 lần; nhập cảnh lần gần đây nhất ngày 06/01/2023 qua Sân bay quốc tế N, hiện chưa có thông tin xuất cảnh.

Theo danh sách xuất, nhập cảnh kèm theo thể hiện: bà Nguyễn Thị N xuất cảnh ngày 30/12/2009 và nhập cảnh ngày 06/01/2023.

*Tại Biên bản xác minh ngày 11/7/2024, UBND xã S cung cấp:

Cụ Nguyễn Văn P (sinh năm 1938, chết năm 2020) và cụ Lê Thị H4 (sinh năm 1938, chết năm 2009). Bố mẹ cụ P, cụ H4 đều đã chết trước khi cụ P, cụ H4 chết.

Cụ P, cụ H4 có 6 người con là: Nguyễn Văn K2, sinh năm 1963, (chết năm 2022); Nguyễn Văn D, sinh năm 1964; Nguyễn Thị H, sinh năm 1960; Nguyễn Thị N, sinh năm 1971; Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1973; Nguyễn Văn K3, sinh năm 1967 (chết năm 2006).

Ông K2 có vợ là bà Nguyễn Thị Q, sinh ngày 02/02/1964; con gái Nguyễn Thị M, sinh năm 1984 và Nguyễn Văn K, sinh năm 1985.

Ông K3 có vợ là Đỗ Thị H1 (tên gọi khác là H2) sinh năm 1974, con trai Nguyễn Văn Q1 sinh năm 1996; Nguyễn Văn C, sinh năm 2001, chết ngày 27/01/2023.

Năm 2006 ông K3 chết, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông K3 gồm có: cụ Nguyễn Văn P, cụ Lê Thị H4, bà Đỗ Thị H1, anh Nguyễn Văn Q1, anh Nguyễn Văn C.

Năm 2009, cụ Lê Thị H4 chết, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ H4 gồm: cụ Nguyễn Văn P, ông Nguyễn Văn K2, ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị Đ, người thừa kế thế vị của ông Nguyễn Văn K3 là cháu Nguyễn Văn Q1Nguyễn Văn C (do ông K3 chết trước cụ H4 nên hai con của ông K3 là người thừa kế thế vị của ông K3).

Năm 2020, cụ Nguyễn Văn P chết, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ P gồm: ông Nguyễn Văn K2, ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị Đ, người thừa kế thế vị của ông Nguyễn Văn K3 là cháu Nguyễn Văn Q1Nguyễn Văn C (do ông K3 chết trước cụ H4 nên hai con của ông K3 là người thừa kế thế vị của ông K3).

Năm 2022, ông Nguyễn Văn K2 chết, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông K2 gồm: bà Nguyễn Thị Q, chị Nguyễn Thị M, anh Nguyễn Văn K.

Năm 2023, anh Nguyễn Văn C chết, người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của anh C là bà Đỗ Thị H1 (tên gọi khác H2).

Ngoài ra không còn ai khác thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông P, bà H1, ông K2, ông K3, anh C.

*Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

*Tại phiên tòa ngày 24/05/2024, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà nên Hội đồng xét xử hoãn phiên toà.

*Tại phiên tòa ngày 24/06/2024, do cần cần tạm ngừng phiên tòa để xác minh, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ (trưng cầu giám định đối với chữ viết, chữ ký theo đơn yêu cầu của ông D, bà Đ) nên Hội đồng xét xử đã ngừng phiên toà.

*Tại phiên toà hôm nay,

  • - Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông D, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà H, bà Đ, bà H1 giữ nguyên ý kiến, quan điểm đã trình bày trong hồ sơ vụ án. Đối với Kết luận giám định số 1513/KL-KTHS ngày 11/07/2024 của Phòng K4 Công an tỉnh B, ông D và bà Đ nhất trí, không có ý kiến gì.
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn Q1 nhất trí với ý kiến bà H1 đã trình bày, nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N.
  • - Bị đơn bà Nguyễn Thị Q trình bày: Bà là vợ ông Nguyễn Văn K2, con dâu cụ Nguyễn Văn P và cụ Lê Thị H4. Bố mẹ chồng bà có 6 người con như ông D, bà Đ, bà H trình bày là đúng. Bố mẹ bà trong quá trình chung sống có một thửa đất tại thôn T, xã S, thành phố B. Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bố mẹ chồng bà. Chồng bà ông K2 là con trưởng, luôn sống có trách nhiệm với gia đình. Ông K2 đã lo cho bà N rất nhiều (lo tiền cho bà N đi nước ngoài, lo cho các con bà N và bố mẹ chồng bà N ở nhà). Bà không được ông K2 hay bất kỳ ai trong gia đình thông báo về nội dung của Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011 cho đến khi bà N khởi kiện tại Toà án. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà N về yêu cầu tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011 được Công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng: 577/2011 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu, quan điểm của bà là không nhất trí. Vì bà N đã được ông K2 lo cho rất nhiều và đất tuy tên ông K2 nhưng gia đình bà không bán đất mà để thờ cúng tổ tiên nên bà N không có quyền yêu cầu chia đất này. Bà không có tên trong văn bản, cũng không liên quan gì đến Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011 nên bà N khởi kiện bà là không đúng, bà không phải là bị đơn.
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị M trình bày: chị là con ông Nguyễn Văn K2 và bà Nguyễn Thị Q, là cháu nội cụ Nguyễn Văn P và cụ Lê Thị H4. Chị không biết ông bà chị khi còn sống có tài sản là gì, có thoả thuận phân chia tài sản như thế nào. Năm 2022, sau khi ông K2 chết, chị có mở két sắt của bố chị để lại thì thấy trong két có lưu giữ 01 Biên bản họp gia đình. Đọc Biên bản đó chị mới biết việc ông bà nội chị giao toàn bộ quyền điều hành gia đình cho bố chị. Đối với Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011, chị chưa bao giờ nhìn thấy văn bản này, cũng không được ai thông báo về nội sung văn bản này. Mãi sau này chị mới biết bố chị đã được sang tên tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trước đây ông bà nội chị sinh sống. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà N về yêu cầu tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011 được Công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng: 577/2011 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu, quan điểm của chị là không nhất trí. Vì thời điểm lập văn bản này, ông nội chị là ông P vẫn còn sống nên có quyền quyết định đối với toàn bộ đất của ông bà chị. Văn bản đã được các cơ quan có thẩm quyền xác nhận nên văn bản này đương nhiên có hiệu lực pháp luật. Chị nhất trí ý kiến của bà Q, không đồng ý bà Q là bị đơn vì bà Q không có tên và không liên quan gì đến Văn bản mà bà N khởi kiện.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu:

  • - Ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử vụ án. Nguyên đơn bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cơ bản chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.
  • - Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011 được Công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng: 577/2011 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu một phần (phần di sản của cụ Lê Thị H4 mà người thừa kế là bà Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn Q1, anh Nguyễn Văn C được hưởng).
  • Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu Tòa án xác định thửa đất số 91, tờ bản đồ số 59, diện tích 483,4m² tại thôn T, xã S, thành phố B là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn P và cụ Lê Thị H4 để lại chưa chia và yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn P và cụ Lê Thị H4 thành 6 kỷ phần bằng nhau cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ P, cụ H4.
  • - Về chi phí giám định, về án phí: Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định.
  • - Kiến nghị, khắc phục vi phạm: Không

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về sự vắng mặt của các đương sự: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn K, Văn phòng C1 hoàng vắng mặt nhưng đây đã là phiên toà mở lần thứ hai. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là đảm bảo qui định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà N xin rút các yêu cầu khởi kiện về yêu cầu Tòa án xác định thửa đất số 91, tờ bản đồ số 59, diện tích 483,4m² tại thôn T, xã S, thành phố B là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn P và cụ Lê Thị H4 để lại chưa chia; yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn P và cụ Lê Thị H4 thành 6 kỷ phần bằng nhau cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ P, cụ H4. Căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ một phần đối với các yêu cầu khởi kiện mà nguyên đơn xin rút.

[3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011 được Công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng: 577/2011 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu. Do vậy, cần xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về yêu cầu tuyên bố văn bản phân chia di thừa kế vô hiệu (tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu)” theo quy định tại khoản 11 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại thành phố B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[4.1] Về hình thức: Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011 được Công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng: 577/2011 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD là đảm bảo quy định về hình thức Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế theo quy định tại tại khoản 2 Điều 681 Bộ luật dân sự năm 2005.

[4.2] Về điều kiện có hiệu lực của văn bản:

Cụ Nguyễn Văn P và cụ Lê Thị H4 là chủ sử dụng thửa đất số 91, tờ bản đồ số 59, diện tích 483,4m² tại thôn T, xã S, thành phố B. Đất đã được UBND thành phố B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 666008 ngày 03/8/2007 mang tên Nguyễn Văn P, Lê Thị H4.

Cụ P, cụ H4 có 6 người con là Nguyễn Văn K2, sinh năm 1963, Nguyễn Văn D, sinh năm 1964; Nguyễn Thị H, sinh năm 1960; Nguyễn Thị N, sinh năm 1971; Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1973; Nguyễn Văn K3, sinh năm 1967.

Năm 2006, ông K3 chết. Ông K3 có vợ là Đỗ Thị H1 (tên gọi khác là H2) sinh năm 1974, con trai Nguyễn Văn Q1 sinh năm 1996; Nguyễn Văn C, sinh năm 2001, chết ngày 27/01/2023. Năm 2009, cụ H1 chết.

Tại Điều 677 Bộ luật dân sự 2005 quy định về thừa kế thế vị như sau: “Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống”

Do ông K3 chết trước cụ H1 nên con trai ông K3Nguyễn Văn Q1Nguyễn Văn C là những người thừa kế thế vị của ông K3 được hưởng phần di sản của cụ H1. Như vậy cần xác định những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà H1 gồm có ông P, ông K2, ông D, bà H, bà Đ và anh Q1, anh C.

Tại Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011 thể hiện nội dung: “Chúng tôi gồm có: Nguyễn Văn P là chồng bà Lê Thị H4 (bà H4 chết ngày 04/6/2009) và các con của bà H4Nguyễn Văn K2, Nguyễn Văn D, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Đ... Chúng tôi là những người thừa kế của theo pháp luật (thuộc hàng thừa kế thứ nhất) của bà Lê Thi H5. Chúng tôi thoả thuận về việc phân chia di sản thừa kế của bà Lê Thi H5 để lại như sau: Bà Lê Thị H4 và ông Nguyễn Văn P là vợ chồng và có tài sản chung là quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 666008 do UBND thành phố B cấp ngày 03/8/2007, cụ thể như sau: thửa đất số 91, tờ bản đồ số 59, địa chỉ thửa đất: thôn T, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, diện tích 483,5m²...Chúng tôi đã bàn bạc, thoả thuận và đi đến nhất trí tặng cho toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất số 91 nêu trên cho ông Nguyễn Văn K2...”. Văn bản có đầy đủ chữ ký của ông P, ông K2, ông D, bà H, bà N, bà Đ.

Ngày 08/7/2024, Tòa án đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với chữ viết, chữ ký “Nguyễn Thị N; D-Nguyễn Văn D; Đ-Nguyễn Thị Đ” trong “Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011”. Tại Kết luận giám định số 1513/KL-KTHS ngày 11/07/2024 của Phòng K4 Công an tỉnh B kết luận:

  • Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung “D-Nguyễn Văn D” dưới các mục “Những người thừa kế” ở trang 2 và chữ ký có nội dung “D” ở cuối trang 01 trên các tài liệu cần giám định so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn D trên các tài liệu mẫu là do cùng một người ký, viết ra.
  • Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung “Đông-Nguyễn Thị Đ” dưới các mục “Những người thừa kế” ở trang 2 và chữ ký có nội dung “Đông” ở cuối trang 01 trên các tài liệu cần giám định so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị Đ trên các tài liệu mẫu là do cùng một người ký, viết ra.
  • Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung “Nguyễn Thị N” dưới các mục “Những người thừa kế” ở trang 2 và chữ ký có nội dung “Nhẫn” ở cuối trang 01 trên các tài liệu cần giám định so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị N trên các tài liệu mẫu là không phải do cùng một người ký, viết ra.

N trình bày chưa bao giờ được thông báo hay ký vào Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011 vì thời điểm đó bà đi lao động xuất khẩu bên nước ngoài. Lời trình bày của bà N phù hợp với Kết luận giám định số số 1513/KL-KTHS ngày 11/07/2024 và thông tin về xuất nhập cảnh mà Phòng Q Công an tỉnh B đã cung cấp tại Công văn số 3290/QLXNC ngày 13/11/2023. Hơn nữa, Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011 còn bỏ sót người thừa kế, cụ thể là anh C, anh Q1 (do thời điểm năm 2009 anh Q1, anh C chưa đủ 18 tuổi thì sẽ do bà H4 là người đại diện theo pháp luật) là người thừa kế thế vị của ông K3. Căn cứ Điều 128 Bộ luật dân sự 2005, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011 được Công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng: 577/2011 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu một phần do vi phạm điều cấm của pháp luật (phần di sản của cụ Lê Thị H4 mà người thừa kế là bà Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn Q1, anh Nguyễn Văn C được hưởng).

Tại mục II.2 công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn thì theo Điều 195 của Luật đất đai, điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định việc đăng ký biến động, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chuyển quyền dựa trên cơ sở của hợp đồng, văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu đủ điều kiện thực hiện các quyền theo quy định thì xác nhận nội dung biến động vào giấy chứng nhận đã cấp hoặc lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc xác nhận biến động trong trường hợp thực hiện hợp đồng là thủ tục hành chính trong giao dịch dân sự, không mang tính chất của quyết định hành chính cá biệt; cơ quan, tổ chức có thẩm quyền sẽ thực hiện việc đăng ký biến động, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở kết quả giao dịch có hiệu lực. Khi giải quyết tranh chấp về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất mà hợp đồng đó bị vô hiệu, nhưng người nhận chuyển quyền đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đã được xác nhận nội dung biến động thì không đưa cơ quan có thẩm quyền trong việc cấp giấy tham gia tố tụng và không cần phải tuyên hủy giấy chứng nhận cấp cho người chuyển nhượng. Khi Tòa án tuyên hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất vô hiệu thì văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan tài nguyên và môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án. Do Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011 được Công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng: 577/2011 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu một phần, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố BPhòng Tài nguyên và môi trường thành phố B căn cứ vào Bản án của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang để điều chỉnh biến động phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.

[4.3] Về hậu quả của Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011 được Công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng: 577/2011 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu một phần: Toà án đã giải thích về quyền yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu nhưng các đương sự đều không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[5] Đối với ý kiến của bà Q, chị M cho rằng bà Q không liên quan gì đến Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011 nên không phải bị đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011 được Công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng: 577/2011 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 21/11/2011 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B đã chỉnh lý biến động tại mục VI tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 666008 ngày 03/8/2007 như sau: Chuyển quyền cho ông Nguyễn Văn K2-sinh năm 1963.CMND số [...] cấp ngày 12/5/2006 tại Công an tỉnh B. Có địa chỉ thường trú: Xã S, thành phố B. Quyền sử dụng toàn bộ diện tích thửa đất theo Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế số 577/2011, quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD được Văn phòng C2 công chứng ngày 14/11/2011. Ngày 15/4/2022, ông K2 chết không có di chúc. Những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông K2 gồm bà Q, chị M, anh K. Do vậy, bà N khởi kiện bà Q là đúng quy định.

[6] Về chi phí tố tụng: Chi phí giám định là 3.240.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp đủ số tiền này. Căn cứ Điều 159, Điều 160, Điều 161 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí giám định đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận. Nguyên đơn được nhận lại số tiền chi phí giám định khi bị đơn nộp lại.

[7] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 677, khoản 2 Điều 681, Điều 128 Bộ luật dân sự 2005;

Áp dụng khoản 11 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 244, Điều 159, Điều 160, Điều 161, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14/11/2011 được Công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng: 577/2011 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu một phần (phần di sản của cụ Lê Thị H4 mà người thừa kế là bà Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn Q1, anh Nguyễn Văn C được hưởng).
  2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu Tòa án xác định thửa đất số 91, tờ bản đồ số 59, diện tích 483,4m² tại thôn T, xã S, thành phố B là di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn P và bà Lê Thị H4 để lại chưa chia; Yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn P và bà Lê Thị H4 thành 6 kỷ phần bằng nhau cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông P, bà H4.
  3. Về chi phí tố tụng: Bà Q phải chịu 3.240.000 đồng chi phí giám định. Ông D, bà Đ được nhận lại số tiền này khi bà Q nộp lại.
  4. Về án phí: Bà Q phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả bà N số tiền tạm ứng án phí là 4.300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000102 ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang và số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000188 ngày 01/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  6. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
  7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Bắc Giang;
  • - VKS TP Bắc Giang,
  • - CCTHA dân sự TP Bắc Giang,
  • - Các đương sự,
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/DS-ST ngày 13/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về tranh chấp về yêu cầu tuyên bố văn bản phân chia di sản thừa kế vô hiệu

  • Số bản án: 46/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về yêu cầu tuyên bố văn bản phân chia di sản thừa kế vô hiệu
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị N - Nguyễn Thị Q Tranh chấp VB phân chia dí sản thừa kế vô hiệu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger