Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HOÀNG MAI

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số 46/2024/HS-ST

Ngày 12 – 9 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Bảy.

Ông Nguyễn Văn Hướng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Trọng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thái – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An và Đ cầu Trại Tạm giam Công an tỉnh N, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2024/TLST-HS, ngày 19 tháng 8 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 đối với:

- Các bị cáo:

1. Đinh Văn T, sinh ngày 09 tháng 9 năm 1992, tại huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn L và bà Nguyễn Thị L1; vợ: Nguyễn Lệ Mai C và có 02 người con; tiền án: Ngày 08/3/2024, bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản” (chưa chấp hành án); tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • - Ngày 02/8/2010, bị Công an phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây rối, đánh nhau”.
  • - Ngày 15/3/2011, bị Công an phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • - Ngày 07/9/2011, bị Toà án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Ngày 13/3/2014, bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Nghệ An khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích”, đã đình chỉ điều tra vụ án, bị can ngày 27/6/2014.
  • - Ngày 28/11/2017, bị Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” .
  • - Ngày 01/3/2021, bị Công an xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”.
  • - Ngày 04/5/2021, bị Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/3/2024 đến nay. Có mặt.

2. Bị cáo Nguyễn Hữu L2, sinh ngày 16 tháng 7 năm 1991, tại huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T1 và bà Nguyễn Thị T2; vợ: Phan Thị Khánh L3 và có 04 người con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 19 tháng 3 năm 2024 đến ngày 24 tháng 5 năm 2024. Có mặt.

- Bị hại: Anh Đỗ Văn K, sinh năm 1984; nơi cư trú: Phố N, phường M, quận B, Hà Nội. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 11/3/2024, Đinh Văn T thuê xe ô tô taxi của Nguyễn Hữu L2 đi từ huyện H, tỉnh Nghệ An ra tỉnh Hòa Bình. Khi đi đến khách sạn M (thuộc khối B, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An), T bảo L2 dừng xe để đi vệ sinh. Tại đây, T phát hiện một chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai santafe màu đen, biển số 30K-597.06 đang đậu ở bãi để xe của khách sạn, T nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng hình thức sử dụng hình ảnh chiếc xe ô tô trên để đăng bán qua mạng xã hội Facebook. Tăng nhờ L2 chụp ảnh và quay video chiếc xe ô tô trên thì L2 đồng ý và xuống xe chụp ảnh và quay video rồi gửi cho T. Sau đó, T dùng điện thoại đăng nhập vào tài khoản facebook “Bố Đ1” (đây là tài khoản ảo T lập để lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng) và đăng bài với nội dung: “Cần bán Santafe 2021 màu đen, số bấm, máy dầu, không hành lý với giá tiền là 2xx. Anh em thiện chí thì ibox” kèm hình ảnh chiếc xe ô tô đã chụp.

Đến ngày 12/3/2024, anh Đỗ Văn K sử dụng tài khoản facebook “Cầm đồ Mỹ Đ2” nhắn tin đến tài khoản “Bố Đời” của T với nội dung: “xe còn không, xe có giấy tờ gì không, nguồn gốc thế nào, giá bán bao nhiêu?” Thì T trả lời: “xe đang còn, không có giấy tờ” và báo giá xe là 230.000.000 đồng. Sau khi thỏa thuận, T đồng ý bán xe cho anh K với giá 190.000.000 đồng và giao xe ở khách sạn M. Hai bên thống nhất vào 01 giờ sáng ngày 13/3/2024, anh K đến xem xe trực tiếp tại khách sạn M thì T sẽ chỉ nơi để chìa khóa và anh K sẽ chuyển tiền thanh toán cho T để lấy xe.

Cùng ngày, T gọi L2 ra Hòa Bình đón T về thì L2 đồng ý. Đến khoảng 21 giờ ngày 12/3/2024, khi T đang ở tỉnh Hòa Bình thì anh K gọi điện yêu câu T kết bạn Zalo để quay video chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai santafe màu đen, biển số 30K-597.06. Tăng gọi điện thoại cho L2 hỏi L2 gần đến khách sạn M chưa thì qua xem chiếc xe ô tô còn ở đó không để quay video và giao xe. L2 biết việc T lừa đảo bán xe ô tô để chiếm đoạt tài sản nhưng vẫn đồng ý quay video xe ô tô cho T. Khi đến khách sạn M, L2 gọi điện cho T báo vẫn còn xe thì T nói L2: “anh qua đó, rồi có người gọi cho anh xem xe thì anh cứ quay xung quanh xe cho họ xem là được”. Sau đó, T sử dụng số thuê bao 0869.773.252 (số thuê bao này T nhặt được) lập tài khoản Zalo “Minh Lực” và gửi cho L2 để L2 sử dụng liên lạc với anh K và gửi cho anh K tài khoản Z “Minh L4”. Anh K dùng tài khoản Zalo “B” gọi đến tài khoản Z “Minh L4” để L4 quay xe cho anh K xem. Sau đó, L4 đăng xuất khỏi tài khoản và tiếp tục ra Hòa Bình đón T.

Sau khi gọi cho L4, anh K nhắn cho T qua tài khoản facebook “Bố Già” đồng ý mua xe với giá 190.000.000 đồng. Sau đó, anh K đến khách sạn M xem xe và gọi điện cho T hỏi nơi để chìa khóa xe. T yêu cầu anh K chuyển tiền rồi mới chỉ nơi để chìa khóa thì anh K đồng ý. T gọi hỏi L4 có số tài khoản ngân hàng nào không dùng thì L4 gửi số tài khoản 103001397083 ngân hàng V của mình cho T. Sau đó, T gửi số tài khoản trên cho anh K. Khoảng 10 phút sau, anh K chuyển số tiền 80.000.000 đồng đến tài khoản trên của L4, L4 đã chuyển số tiền này đến số tài khoản 0929584567 Ngân hàng M1 của T. Sau đó, T tiếp tục yêu cầu anh K chuyển toàn bộ số tiền mua xe thì mới giao chìa khóa nhưng anh K không đồng ý. Sau khi trao đổi, anh K đã chuyển tiếp số tiền 70.000.000 đồng đến số tài khoản của L4, L4 đã chuyển số tiền trên cho T. T bảo với L4 “Anh lừa bán được chiếc xe Santafe đó rồi chờ hắn chuyển hết rồi em cho vài chục” thì L4 đồng ý. Sau khi lừa được số tiền 150.000.000 đồng, T biết không thể lừa được anh K nữa nên chặn tài khoản facebook và Z của anh K.

Đến ngày 14/03/2024, T mở chặn và gọi qua zalo cho anh K nói “Răng anh không chuyển cho hết mà giải quyết cho xong”, thì anh K trả lời “Răng xe em bán cho anh mà lại cho người Hàn Quốc thuê đi là sao”, T nói “Thì em lâu ni cho họ thuê nhưng giờ cần tiền nên em bán, giờ anh chuyển nốt số tiền còn lại đi rồi em bảo L4 đưa khóa xe ra cho anh”, anh K trả lời “để anh gọi cho L4”. Sau đó, T gọi điện nói L4 đến đón T. L4 và T ra khu vực UBND xã H, huyện H. Tại đây, T gửi vị trí qua zalo cho anh K rồi đưa máy điện thoại có đăng nhập tài khoản zalo “Minh Lực” để L4 nói chuyện với anh K, trong lúc nói chuyện thì anh K yêu cầu L4 gọi video để xem xe ô tô có còn ở đó nữa không thì mới đi vào lấy xe. Lúc này, T và L4 thống nhất với nhau là bảo L4 đang ở xa và yêu cầu anh K chuyển thêm năm đến mười triệu đồng nữa để L4 có tiền bắt xe ra chỗ để ô tô. Anh K không đồng ý và bảo sau khi nhận chìa khóa xe sẽ chuyển số tiền 30.000.000 đồng còn lại. Tăng tiếp tục tắt máy, chặn zalo của anh K.

Đến ngày 18/3/2024, anh Đỗ Văn K đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H trình báo về vụ việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngày 19/3/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Đinh Văn T và Nguyễn Hữu L2.

Cáo trạng số 52/CT-VKS-HM ngày 16/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai đã truy tố Đinh Văn T và Nguyễn Hữu L2 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Đinh Văn T, Nguyễn Hữu L2 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

Căn cứ vào điểm c, khoản 2, Điều 174; điểm h, khoản 1, Điều 52; điểm s, khoản 1, Điều 51, Điều 38, Điều 58, Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đinh Văn T mức án từ 04 năm 06 tháng tù đến 05 năm tù; Tổng hợp hình phạt 04 năm tù tại Bản án số 26/2024/HS-PT ngày 08/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 08 năm 06 tháng tù đến 09 năm tù.

Căn cứ vào điểm c, khoản 2, Điều 174; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Hữu L2 mức án từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của Nguyễn Hữu L2 cho anh Đỗ Văn K số tiền 3.000.000 đồng (Số tiền này bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai). Buộc bị cáo Đinh Văn T phải trả lại cho anh Đỗ Văn K số tiền bị cáo đã chiếm đoạt còn lại là 147.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước:

  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu TecNo Pova 4, màu đen, số imei 1: 352517306857126, số imei 2: 352517306857134, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0974322391, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Hữu L2.
  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, số imei: 353846501584451, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0569733252, đã qua sử dụng, thu giữ của Đinh Văn T.
  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus, màu vàng, số imei: 356714086087307, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0929584567, đã qua sử dụng, thu giữ của Đinh Văn T.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo không có tranh luận gì.

Các Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[3]. Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình phù hợp với biên bản bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Từ ngày 11/3/2024 đến ngày 12/3/2024, tại khu vực Khách sạn M (thuộc khối B, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An), Đinh Văn T, Nguyễn Hữu L2 tuy không phải là chủ sở hữu đối với xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Santafe màu đen, biển kiểm soát 30K-597.06, nhưng đã sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook đăng thông tin gian dối về việc bán chiếc xe ô tô trên để tạo niềm tin và sau đó đã chiếm đoạt của anh Đỗ Văn K số tiền 150.000.000 đồng. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Với hành vi trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản", tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[4]. Về hình phạt chính: Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang trong quân chúng nhân dân.

Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Vụ án có tính chất đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, do đó khi quyết định hình phạt, cần phải xem xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất tham gia và mức độ tham gia của từng người đồng phạm; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng người đồng phạm.

Bị cáo Đinh Văn T là người khởi xướng, chủ mưu; là người có nhân thân xấu; bị cáo đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản” chưa chấp hành án. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” được quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo. Tuy nhiên, xét bị cáo sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét bị cáo Đinh Văn T đã bị xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản” nhưng chưa thi hành. Vì vậy, cần áp dụng Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt chưa chấp hành của Bản án số 26/2024/HS-PT ngày 08/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án.

Bị cáo Nguyễn Hữu L2 là có vai trò giúp sức tích cực cho bị cáo Đinh Văn T để chiếm đoạt tài sản của bị hại. Vì vậy, bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi của mình. Tuy nhiên, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường, khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại; ngoài ra trong quá trình công tác tại địa phương bị cáo đượng tặng nhiều “Giấy khen” trong thực hiện nhiệm vụ. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét bị cáo Nguyễn Hữu L2 phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Phạm tội lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Vì vậy, không cần thiết phải bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ nghiệm, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn; không có việc làm ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đinh Văn T là người đã chiếm đoạt và tiêu dùng toàn bộ số tiền 150.000.000 đồng của bị hại. Quá trình chuẩn bị xét xử, bị cáo Nguyễn Hữu L2 đã tự nguyện nộp số tiền 3.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai để khắc phục hậu quả, bồi thường cho anh Đỗ Văn K. Vì vậy, cần buộc bị cáo Đinh Văn T phải trả lại toàn bộ số tiền còn lại là 147.000.000 đồng cho bị hại anh Đỗ Văn K.

[7]. Về xử lý vật chứng:

  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu TecNo Pova 4, màu đen, số imei 1: 352517306857126, số imei 2: 352517306857134, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0974322391, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Hữu L2.
  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, số imei: 353846501584451, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0569733252, đã qua sử dụng, thu giữ của Đinh Văn T.
  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus, màu vàng, số imei: 356714086087307, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0929584567, đã qua sử dụng, thu giữ của Đinh Văn T.

Xét thấy, đây là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

[8]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9]. Các đề nghị khác của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Đinh Văn T, Nguyễn Hữu L2 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
    • - Căn cứ vào điểm c, khoản 2, Điều 174; điểm h, khoản 1, Điều 52; điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38, Điều 58, Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đinh Văn T 05 năm tù. Tổng hợp hình phạt 04 năm tù tại Bản án số 26/2024/HS-PT ngày 08/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 09 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 19 tháng 3 năm 2024.
    • - Căn cứ vào điểm c, khoản 2, Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 38, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu L2 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 48 tháng tình từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 12 tháng 9 năm 2024.
    • Giao bị cáo Nguyễn Hữu L2 cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
    • Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  2. Về trách nhiệm dân sự:
    • - Buộc bị cáo Đinh Văn T phải trả cho anh Đỗ Văn K số tiền 150.000.000 đồng.
    • - Anh Đỗ Văn K được nhận số tiền 3.000.000 đồng do bị cáo Nguyễn Hữu L2 tự nguyện bồ thường. (Số tiền trên đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tiền số 0009235 ngày 10/9/2024).
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:
    • - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu TecNo Pova 4, màu đen, số imei 1: 352517306857126, số imei 2: 352517306857134, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0974322391, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Hữu L2.
    • - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, số imei: 353846501584451, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0569733252, đã qua sử dụng, thu giữ của Đinh Văn T.
    • - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus, màu vàng, số imei: 356714086087307, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0929584567, đã qua sử dụng, thu giữ của Đinh Văn T.
    • (Đặc điểm, tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An và Chi Cục thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An).
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đinh Văn T và Nguyễn Hữu L2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Buộc bị cáo Đinh Văn T phải chịu 7.350.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Hoàng Mai;
  • - Bị cáo;
  • - Chi cục THADS thị xã Hoàng Mai;
  • - Công an thị xã Hoàng Mai;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Hưng Tây;
  • - UBND xã Nam Giang.
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Huy Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 46/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đinh Văn Tăng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger