Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 46/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12/7/2024

V/v: “Xin ly hôn”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Ngô Rạng Đông
  2. Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thuỷ - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tặng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 104/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 về việc “Xin ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 104/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 25 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Xuân Chung, sinh năm 1972 (Có mặt).
  2. Địa chỉ: Khu phố 4, phường An Thới, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

  3. Bị đơn: Bà Chu Thị Minh, sinh năm 1973 (Có mặt).
  4. Địa chỉ: Khu phố 4, phường An Thới, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong quá trình tố tụng và tại phiên toà, nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Chung trình bày:

Năm 1993, tôi và bà Chu Thị Minh tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau chung sống như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống vui vẻ hạnh phúc nhưng gần đây chúng tôi thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi nhau khiến cuộc sống hôn nhân ngày càng áp lực. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, nếu có kéo dài cũng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân cũng không đạt được nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi những vấn đề sau đây:

  • - Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với bà Chu Thị Minh.
  • - Về con chung: Vợ chồng có 03 người con chung: Nguyễn Xuân Dũng, sinh năm 1994, Nguyễn Thị Hằng, sinh năm 1997 và Nguyễn Xuân Sơn, sinh năm 1999. Các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
  • - Về tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình tố tụng và tại phiên toà, bị đơn bà Chu Thị Minh trình bày:

Tôi và ông Chung bắt đầu chung sống vợ chồng từ năm 1993 có tổ chức đám cưới nhưng không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung số hạnh phúc nhưng đến tháng 11/2023 thì phát sinh mâu thuẫn do ông Chung có người phụ nữ khác bên ngoài nên từ đó đến nay tôi và ông Chung vẫn sống chung nhà nhưng ông Chung không ăn cùng, không ngủ cùng tôi mà ra ngoài ăn và ngủ riêng phòng.

Tôi và ông Chung có 03 người con là Nguyễn Xuân Dũng, sinh năm 1994, Nguyễn Thị Hằng, sinh năm 1997 và Nguyễn Xuân Sơn, sinh năm 1999. Hiện các con đã trưởng thành nên đề nghị Toà không xem xét.

Về tài sản chung: Tôi và ông Chung có nhà và xe ôtô nhưng tôi không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.

Về công nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà giải quyết.

Nay ông Minh yêu cầu Toà giải quyết ly hôn với tôi thì tôi không đồng ý.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, không công nhận ông Nguyễn Xuân Chung và bà Chu Thị Minh là vợ chồng.

  • -Về con chung: Các con đã trưởng thành, ông Chung và bà Minh không có yêu cầu đề nghị không xem xét.
  • - Về tài sản chung: Ông Chung và bà Minh tự thoả thuận. Đề nghị miễn xét.
  • - Về công nợ chung: Ông Chung, bà Minh cam kết không có nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Chung với bị đơn bà Chu Thị Minh xác định quan hệ pháp luật tranh chấp xác định là “Xin ly hôn”.

Bị đơn bà Chu Thị Minh có địa chỉ tại phường An Thới, thành phố Phú Quốc nên căn cứ quy định tại các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

[2] Về nội dung vụ án: Năm 1993, ông Nguyễn Xuân chung và bà Chu Thị Minh chung sống như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn. Cho đến nay thì vẫn chưa đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống hạnh phúc nhưng đến tháng 11/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cải nhau. Hiện hai người đã sống ly thân, nay ông Chung yêu cầu được ly hôn thì bà Minh cũng đồng ý nhưng do hai người không có đăng ký kết hôn nên không có căn cứ để giải quyết cho ly hôn mà cần tuyên bố mối quan hệ giữa ông Chung và bà Minh không phải là vợ chồng.

Về con chung: Ông Chung và bà Minh xác nhận có 03 người con chung là Nguyễn Xuân Dũng, sinh năm 1994, Nguyễn Thị Hằng, sinh năm 1997 và Nguyễn Xuân Sơn, sinh năm 1999. Hiện các con đã trưởng thành nên không xem xét nên không xem xét.

Về tài sản chung: Ông Chung và bà Minh tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về công nợ chung: Ông Chung và bà Minh xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết nên cũng miễn xét.

[3] Về án phí:

Ông Chung phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm 300.000đồng. Bà Minh không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 157, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. [1] Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa ông Nguyễn Xuân Chung và bà Chu Thị Minh là vợ chồng.
  2. [2] Về con chung: Ông Chung và bà Minh xác nhận có 03 người con chung Nguyễn Xuân Dũng, sinh năm 1994, Nguyễn Thị Hằng, sinh năm 1997 và Nguyễn Xuân Sơn, sinh năm 1999 đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  3. [3] Về tài sản chung và công nợ chung:

    Về tài sản chung: Ông Chung và bà Minh tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

    Về công nợ chung: Ông Chung và bà Minh xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết nên cũng miễn xét.

  4. [4]. Về án phí:

    Ông Nguyễn Xuân Chung phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm 300.000đồng. Ông Chung đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000047, ngày 10/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang nay chuyển thành án phí. Như vậy, ông Chung đã nộp xong.

    Bà Chu Thị Minh không phải chịu án phí.

  5. [5] Về quyền kháng cáo:

    Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKS Tp. Phú Quốc;
  • - THA Tp. Phú Quốc;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Kim Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HNGĐ-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG về xin ly hôn

  • Số bản án: 46/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xin ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger