Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ ĐĂNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 12-6-2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Đào

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Đức Hòa
  2. Bà Lê Thị Thận

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Chang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh Tâm – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 13/2024/TLST- HNGĐ, ngày 23 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXX - ST ngày 24 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Thị R, sinh năm 1993 (Có mặt)
  • Địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước
  • - Bị đơn: Anh Điểu C, sinh năm 1997 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn D, xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 23/01/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Thị R trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị R và anh Điểu C tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau từ năm 2015, nhưng đến năm 2017 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước vào ngày 31/7/2017. Trong thời gian chung sống, anh C thường xuyên đánh chị R, không quan tâm lo lắng cho gia đình nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh C để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị R và anh C có 02 người con chung là cháu Thị H, sinh ngày 13/12/2015 và cháu Thị N, sinh ngày 04/01/2018. Khi ly hôn chị R có nguyện vọng giao các con chung cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu thành niên; không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị R xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình Tòa án thụ lý vụ án, nguyên đơn chị R cung cấp các tài liệu, chứng cứ gồm: Bản chính giấy trích lục kết hôn số 147 ngày 25/10/2023 của Ủy ban nhân dân xã B; bản phô tô căn cước công dân của chị R; bản sao giấy khai sinh của cháu H, cháu N. Ngoài ra, chị R không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì.

Bị đơn anh Điểu C mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có lời khai.

Tại phiên tòa bị đơn anh C vắng mặt không có lý do; nguyên đơn chị Thị R vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C có quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng theo đúng quy định pháp luật.

Đối với sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do nên đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Thị R; về con chung giao cháu Thị H, sinh ngày 13/12/2015 và cháu Thị N, sinh ngày 04/01/2018 cho anh Điểu C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi; không đặt ra vấn đề cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.

Về án phí sơ thẩm nguyên đơn phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Phần thủ tục tố tụng:

Theo đơn khởi kiện của chị Thị R yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Điểu C. Hiện nay bị đơn đang cư trú tại xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước. Hội đồng xét xử thấy tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn thuộc lĩnh vực hôn nhân gia đình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bù Đăng.

Đối với việc vắng mặt của anh Điểu C: Hội đồng xét xử thấy rằng quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, anh C vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị R và anh C tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước. Điều này phù hợp với bản chính trích lục kết hôn số 147 ngày 25/10/2023 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước đã được chị R cung cấp. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị R và anh C là hợp pháp.

[3] Về mâu thuẫn gia đình: Theo trình bày của chị R thì trong thời gian chung sống chị và anh C phát sinh mâu thuẫn do anh C không lo lắng quan tâm đến cuộc sống gia đình nên hai bên đã sống ly thân từ năm 2020 cho tới nay. Xét thấy việc mâu thuẫn vợ chồng như chị R trình bày là phù hợp với kết quả xác minh tình trạng hôn nhân ngày 03/4/2024 tại địa phương. Do đó, có cơ sở xác định mâu thuẫn gia đình giữa chị R với anh C là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị R.

[4] Về con chung: Chị R và anh C có 02 người con chung là cháu Thị H, sinh ngày 13/12/2015 và cháu Thị N, sinh ngày 04/01/2018. Xét thấy từ khi sống ly thân thì cháu N và cháu H do anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay chị R đề nghị tiếp tục giao cháu H và cháu N cho anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho anh C để anh C có ý kiến về các yêu cầu khởi kiện của chị R, trong đó có yêu cầu về con chung nhưng anh C không có ý kiến gì. Do đó cần chấp nhận yêu cầu của chị R, giao cháu N và cháu H cho anh C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự buộc nguyên đơn chị R phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo luật định.

[7] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ vào Nghị quyết số 326/ 2016/UBTVQH16 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.
  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thị R về việc ly hôn. Chị R được ly hôn với anh Điểu C.
  2. Về con chung: Giao cháu Thị H, sinh ngày 13/12/2015 và cháu Thị N, sinh ngày 04/01/2018 cho anh Điểu C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu N, cháu H đủ 18 tuổi;

    Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom, cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

  3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
  4. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu toà án giải quyết nên không xem xét.
  5. Về án phí: Nguyên đơn chị R phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp trước là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0009041 ngày 23/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
  6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Bù Đăng;
  • - Chi cục THADS huyện Bù Đăng;
  • - UBND xã B;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Đào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HNGĐ - ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 46/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger