Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÓC SƠN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 11/8/2023

V/v Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, TP. HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Ngọc Hòa

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Vĩ
  2. Ông Dương Văn Xuyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Anh – Thư ký Toà án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa: Ông Thiều Văn Thịnh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 12/7/2023 và 11/8/2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 318/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2023 về việc tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1995, Địa chỉ: Thôn Ninh Nội, xã Tân Dân, huyện Sóc Sơn, Hà Nội (Có mặt).

Bị đơn: Anh Hoàng Tân T, sinh năm 1992, Địa chỉ: Thôn Ninh Nội, xã Tân Dân, huyện Sóc Sơn, Hà Nội (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Chị Thủy trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Hoàng Tân Tiến tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND xã Tân Dân, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng tôi về sống cùng gia đình chồng tôi ở thôn Ninh Nội, xã Tân Dân, Sóc Sơn, Hà Nội. Chúng tôi chung sống hạnh phúc được một thời gian đến năm 2021 phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm sống không thể hòa giải, chồng tôi đi cai nghiện ma túy không cùng tôi chăm sóc các con nên tôi đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ 29/3/2022. Chúng tôi đã tự hòa giải và được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành nên chúng tôi chính thức ly thân từ năm 2022 đến nay. Trong thời gian ly thân chúng tôi không quan tâm chăm sóc nhau. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, tôi xin ly hôn anh Tiến.

- Về con chung: Tôi và anh Tiến có 02 con chung là Hoàng Đức Huy sinh ngày 09/8/2015, Hoàng Duy Vũ, sinh ngày 04/01/2019. Không có con riêng. Các con chung đều đang sống cùng chồng tôi. Sau khi được Tòa án hòa giải, vì đảm bảo cho các con được sống ổn định, tôi đồng ý giao cho chồng tôi trực tiếp nuôi cả 02 con chung, tôi không đề nghị Tòa án giải quyết cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức đóng góp: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ: Chúng tôi không có nợ chung, tôi không đề nghị tòa án giải quyết. Nợ riêng của vợ tôi thì tôi không biết.

- Về án phí: Tôi đồng ý chịu cả.

* Anh Tiến trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và chị Thủy được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND xã Tân Dân, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng tôi về sống cùng gia đình tôi ở thôn Ninh Nội, xã Tân Dân, Sóc Sơn, Hà Nội. Chúng tôi chung sống hạnh phúc được một thời gian đến năm 2022 chị Thủy đưa con chung về sống cùng bố mẹ đẻ. Chúng tôi đã tự hòa giải và được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành nên chúng tôi chính thức ly thân từ năm 2022 đến nay. Trong thời gian ly thân chúng tôi không quan tâm chăm sóc nhau. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, tôi đồng ý ly hôn chị Thủy.

- Về con chung: Tôi và chị Thủy có 02 con chung là Hoàng Đức Huy sinh ngày 09/8/2015, Hoàng Duy Vũ, sinh ngày 04/01/2019. Không có con riêng. Các con chung đều đang sống cùng tôi. Sau khi được Tòa án hòa giải, vì đảm bảo cho các con được sống ổn định, tôi đề nghị Tòa án giao cho tôi trực tiếp nuôi cả 02 con chung, tôi không đề nghị Tòa án giải quyết cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức đóng góp: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ: Chúng tôi không có nợ chung, tôi không đề nghị tòa án giải quyết. Nợ riêng của vợ tôi thì tôi không biết.

Tại phiên tòa:

Chị Thủy và anh Tiến đã thống nhất như sau:

  1. Chị Trần Thị Thủy và anh Hoàng Tân Tiến thuận tình ly hôn.
  2. Anh chị có 02 con chung là cháu Hoàng Đức Huy sinh ngày 09/8/2015, cháu Hoàng Duy Vũ, sinh ngày 04/01/2019. Anh Tiến trực tiếp nuôi cả 02 con chung.

Về cấp dưỡng cho con: Ghi nhận sự tự nguyện của anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Thủy có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức đóng góp: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ: Anh chị không có nợ chung, anh chị không đề nghị tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị Thủy đồng ý chịu cả.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn phát biểu quan điểm:

- Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết; xác định đúng mối quan hệ tranh chấp, thụ lý vụ án, giao thông báo thụ lý vụ án, mở phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định; Việc thu thập tài liệu chứng cứ đầy đủ và đúng quy định pháp luật; Vụ án được giải quyết đúng thời hạn; Hội đồng xét xử và thư ký đã tuân theo đúng quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án, phiên tòa diễn ra đúng quy định pháp luật. Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 28, 35, 39 và khoản 4 Điều 147 của BLTTDS năm 2015, nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án,

Đề nghị HĐXX Công nhận sự thỏa thuận như trên của các bên đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, Hà Nội nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về việc ly hôn. Bị đơn trong vụ án là anh Hoàng Tân Tiến cư trú tại: Thôn Ninh Nội, xã Tân Dân, huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thủy và anh Hoàng Tân Tiến được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 22/4/2015 tại trụ sở UBND xã Tân Dân, Sóc Sơn, Hà Nội nên đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. Nay anh chị xác định tình cảm vợ chồng không còn và đã thuận tình ly hôn nên tòa công nhận.

Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuân của anh chị là có 02 con chung là cháu Hoàng Đức Huy sinh ngày 09/8/2015, cháu Hoàng Duy Vũ, sinh ngày 04/01/2019. Anh Tiến trực tiếp nuôi cả 02 con chung.

Về cấp dưỡng cho con: Ghi nhận sự tự nguyện của anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Thủy có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức đóng góp: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ: Anh chị không có nợ chung, anh chị không đề nghị tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị Thủy chịu cả án phí.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị T và anh Hoàng Tân T.
  2. Công nhận sự thỏa thuận của anh, chị như sau:
    • - Anh chị có 02 con chung là cháu Hoàng Đức Huy sinh ngày 09/8/2015, cháu Hoàng Duy Vũ, sinh ngày 04/01/2019. Anh Tiến trực tiếp nuôi cả 02 con chung.
    • - Về cấp dưỡng cho con: Ghi nhận sự tự nguyện của anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
    • - Chị Thủy có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
    • - Về tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức đóng góp: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
    • - Về nợ: Anh chị không có nợ chung, anh chị không đề nghị tòa án giải quyết.
  3. 3. Về án phí: Chị Thủy phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền này được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai số AA/2020/0006055 ngày 22 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội.
  4. 4. Về quyền kháng cáo: Chị Thủy, anh Tiến có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND huyện Sóc Sơn;
  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - Chi cục THADS huyện Sóc Sơn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

TRẦN NGỌC HÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2023/HNGĐ-ST ngày 11/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 46/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger