|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11 - 7 - 2024 V/v tranh chấp: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Thị Út.
2. Bà Lê Thái Thị Kim Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Mai Lý Lệ H - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 102/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 03 năm 2024 về tranh chấp: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N - sinh năm 1980 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2/ Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc G - sinh năm 1977 (Vắng mặt).
Cùng nơi thường trú: Khu phố G, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng, Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N trình bày:
Bà và ông Nguyễn Ngọc G tự nguyện tìm hiểu và quen biết nhau khoảng 06 năm thì tiến tới hôn nhân; có tổ chức đám cưới, tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2004, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn K, huyện N, tỉnh Ninh Thuận ngày 21/5/2004.
Sau khi tổ chức đám cưới thì vợ chồng chung sống tại gia đình nhà cha mẹ của bà. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông G thường xuyên nhậu nhẹt nên vợ chồng hay xảy ra cãi vã. Vợ chồng bất đồng quan điểm sống, khi cha mẹ bà bán nhà thì vợ chồng không còn chỗ ở. Bà có nói chuyện để vợ chồng đi lập nghiệp cùng với cha mẹ bà nhưng ông G không nghe. Đến đầu năm 2021, bà và 02 con bỏ đi nên vợ chồng không sống chung đã 04 năm nay. Bà không còn tình cảm vợ chồng với ông G nên yêu cầu ly hôn.
Bà và ông Nguyễn Ngọc G có 02 con chung là Nguyễn Thị Ngọc N1 - sinh ngày 27/11/2007 và Nguyễn Ngọc Nhân N2 - sinh ngày 22/4/2016. Khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con; bà không yêu cầu ông G cấp dưỡng nuôi con.
Bà làm công nhân, thu nhập mỗi tháng 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng nên đủ khả năng nuôi con.
Bà và ông Nguyễn Ngọc G không có tài sản chung và nợ chung nên bà không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị N đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại “Đơn xin xét xử vắng mặt” ngày 25/6/2024, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện và những ý kiến đã khai tại Tòa án.
Bị đơn là ông Nguyễn Ngọc G: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án; Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông G không đến Tòa án làm việc và cũng không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp; vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án:
Đối với nguyên đơn: Đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
Đối với bị đơn: Chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, vắng mặt tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự (Viết tắt là BLTTDS).
Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc G.
Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N được quyền nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Ngọc N1 và cháu Nguyễn Ngọc Nhân N2; ông Nguyễn Ngọc G không phải trợ cấp nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung với ông Nguyễn Ngọc G có nơi cư trú tại khu phố G, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.
[1.2]. Về việc vắng mặt nguyên đơn: Tại “Đơn xin xét xử vắng mặt” ngày 25/6/2024, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện, những ý kiến đã khai tại Tòa án. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
[1.3]. Về việc vắng mặt bị đơn: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho bị đơn ông Nguyễn Ngọc G nhưng ông G không đến tham gia tố tụng mặc dù đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của BLTTDS; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Ngọc G chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện N, tỉnh Ninh Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 59, ngày 21/5/2004. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông G là hợp pháp. Bà N3 và ông G chung sống hạnh phúc được hơn 17 năm thì phát sinh mâu thuẫn và trở nên trầm trọng, đã không sống chung 04 năm nay. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà N3 là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không thống nhất được nơi cư trú của vợ chồng dẫn tới ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông G không đến Tòa án để làm việc, điều này chứng tỏ ông G thiếu thiện chí và không có mong muốn hàn gắn gia đình.
Theo “Đơn xin xác nhận” ngày 03/5/2024, đại diện khu phố 7 và UBND phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận đã xác nhận: “... ông Nguyễn Ngọc G và bà Nguyễn Thị N quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông G thường xuyên nhậu nhẹt nên vợ chồng xảy ra cãi vã, bất đồng quan điểm sống. Khi vợ chồng không còn chỗ ở, bà N nói chuyện để vợ chồng đi lập nghiệp cùng với cha mẹ của bà nhưng ông G không đồng ý. Đến đầu năm 2021, bà N và 02 con bỏ đi nên vợ chồng không sống chung đã 04 năm nay”.
Xét thấy: Tình trạng mâu thuẫn giữa bà N và ông G đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Việc bà N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông G là có cơ sở, phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên yêu cầu ly hôn của bà N được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2]. Về con chung: Bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Ngọc G có 02 con chung là Nguyễn Thị Ngọc N1 - sinh ngày 27/11/2007 và Nguyễn Ngọc Nhân N2 - sinh ngày 22/4/2016. Xét yêu cầu được nuôi con của bà N, thấy rằng: Từ khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, không sống chung; hai cháu N1 và N2 do bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Đối chiếu với công việc hiện nay là làm công nhân, mức thu nhập bình quân hàng tháng của bà N từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng. Như vậy, bà N có đủ khả năng và điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, đảm bảo được sự phát triển toàn diện của con; phù hợp với khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình; phù hợp với nguyện vọng của cháu N1 và cháu N2 tại “Bản tự khai” ngày 04/5/2024 là được ở với mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N, giao cho bà N là người có quyền và nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung.
[2.3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị N không yêu cầu ông Nguyễn Ngọc G thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; bà Nguyễn Thị N phải chịu toàn bộ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 227; Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc G.
- Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị N là người có quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung là Nguyễn Thị Ngọc N1 - sinh ngày 27/11/2007 và Nguyễn Ngọc Nhân N2 - sinh ngày 22/4/2016.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Ngọc G không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000848 ngày 29/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận. Bà Nguyễn Thị N đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Hồng |
Bản án số 46/2024/HNGĐ-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 46/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa bà Nguyễn Thị Nguyệt với ông Nguyễn Ngọc G
