|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11 - 7 - 2024 V/v “Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quốc Kiệt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Tiềm;
Ông Hồ Minh Khương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Dũng - Thẩm tra viên chính Tòa án
nhân Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 54/2024/TLST- HNGĐ ngày
08 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử Số 69/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024; Quyết định
hoãn phiên tòa số 37/2024/QĐST- HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2024, giữa các
đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc H, sinh năm 1990.
Địa chỉ: KV T, phường P, quận Ô, TP ., (Có mặt tại phiên tòa).
Bị đơn: Ông Lê Quốc T, sinh năm 1987.
Địa chỉ: KV T, phường P, quận Ô, TP ., (Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên
tòa bà Lê Thị Ngọc H trình bày: Bà Lê Thị Ngọc H và ông Lê Quốc T tự nguyện
tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND phường B, quận B, TP . vào
ngày 14/12/2012. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến
năm 2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính
tình không hòa hợp, ông T thường xuyên nhậu say về kiếm chuyện cải nhau và
có lúc ông T có hành vi bạo lực đối với bà T, không lo kiếm việc làm để chăm lo
đời sống vợ con. Mặc dù, cả hai đã có gắng hàn gắn tình cảm nhưng không có
kết quả, vợ chồng đã sống ly thân cách nay hơn 01 năm. Do thấy hôn nhân
không hạnh phúc, nên bà H xin được ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lê
Ngọc Thảo N (nữ), sinh ngày 18/6/2016 đến tuổi trưởng thành, bà H không yêu
cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận.
Về nợ chung: Không có.
Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa triệu tập hợp lệ nhiều lần
để làm việc, tham gia phiên phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, không
khai chứng cứ vào hòa giải, nhưng bị đơn Lê Quốc T vẫn vắng mặt không lý do.
Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt
ông T theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Lê Thị Ngọc H và ông Lê Quốc
T tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn. Nay, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bà H
có đơn xin ly hôn với ông T đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Tranh
chấp này, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, bị đơn có nơi cư trú tại địa
bàn quận Ô, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ô Môn
theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1
Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành triệu tập đối với ông T, nhưng
ông T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt
đối với ông T. theo định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Ngọc H và ông Lê Quốc T tự nguyện
tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, quận B,
thành phố Cần Thơ vào ngày 14/12/2012, nên xác định hôn nhân của của đương
sự là hợp pháp. Bà H cho rằng, nguyên nhân mâu thuẫn phát sinh từ 2016 do vợ
chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, ông T thường xuyên
nhậu say về kiếm chuyện cải nhau và có lúc ông T có hành vi bạo lực đối với bà
T, không lo kiếm việc làm để chăm lo đời sống vợ con. Mặc dù, cả hai đã có
gắng hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả, vợ chồng đã sống ly thân cách
nay hơn 01 năm. Do thấy hôn nhân không hạnh phúc, nên bà H xin được ly hôn
với ông T. Tại phiên tòa, bà H vẫn kiên quyết xin được ly hôn với ông T. Đối với
ông T, quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần,
nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do, cũng như không có gửi văn bản nào
để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà H. Điều đó, cho
thấy ông T không có thiện chí hàn gắn tình cảm đối với bà H. Chứng tỏ, mâu
thuẫn vợ chồng của các đương sự đã thật sự sâu sắc, trầm trọng, mục đích của
hôn nhân là hạnh phúc không đạt được. Nên yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông
T có cơ sở chấp nhận.
[4] Về con chung: Bà H và ông T có 01 con chung là Lê Ngọc Thảo N,
(nữ), sinh ngày 18/01/2016. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung
đến tuổi trưởng thành. Hiện nay cháu N đang được bà H trực tiếp nuôi dưỡng,
bản thân cháu N cũng có nguyện vọng được sinh sống cùng với mẹ là bà T, nên
cần tạo điều kiện cho cháu N được sự quan tâm, chăm sóc nuôi dưỡng của mẹ,
cũng như sự ổn định về nơi ăn, ở, học tập, để cháu N được phát triển tòa diện,
nên giao cháu N cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp.
Bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của đương
sự, nên ghi nhận.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Do ông T vắng mặt không lý do, nên
chưa ghi nhận được ý kiến của ông T về vấn đề này. Nên, tách thành vụ án khác
để giải quyết, nếu sau này các đương sự có phát sinh tranh chấp.
[6] Về án phí: Bà H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000
đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều
27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 227, Điều 228, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự,
Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình;
điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc H với Lê Quốc T.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Ngọc H được ly hôn với ông Lê Quốc T.
Về con chung: Bà Lê Thị Ngọc H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con
chung Lê Ngọc Thảo N, (nữ), sinh ngày 18/01/2016 đến tuổi trưởng thành. Bà H
không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho ông T không ai
được quyền cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi
nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Về tài sản chung và nợ chung: Tách thành vụ án khác để giải quyết, nếu sau
này các đương sự có phát sinh tranh chấp.
Về án phí: Bà Lê Thị Ngọc H chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia
đình sơ thẩm, chuyển số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà H đã nộp theo biên
lai số 0004560 ngày 06/3/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn
thành tiền án phí.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể
từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7
và Điều 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số
điều Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Quốc Kiệt |
Bản án số 46/2024/HNGĐ-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 46/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
