TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L. TỈNH B. Bản án số: 46/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10 – 9 – 2024 V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L., TỈNH B.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Đăng
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Thanh Hương – Bà Lương Thị Thạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã L., tỉnh B..
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L., tỉnh B. tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã L. xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 84/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024, về việc "Tranh chấp ly hôn, nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024, và Quyết định hoãn phiên tòa số: 30/2024/QÐST-HNGĐ, ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Bà Dương Thị Quỳnh N, sinh năm 1992. Địa chỉ: Khu phố E, phường B, thị xã L, tỉnh B. (vắng mặt).
- * Bị đơn: Ông Ngô Hoàng V, sinh năm 1990. Địa chỉ: Khu phố E, phường B, thị xã L, tỉnh B. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 28 – 02 - 2024 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn – bà Dương Thị Quỳnh N, thể hiện: Bà N và ông V chung sống có đăng ký kết hôn tại UBND phường B, thị xã L theo Giấy chứng nhận kết hôn số 40, đăng ký ngày 20/4/2016. Trong thời gian chung sống vợ chồng hạnh phúc không bao lâu sau đó nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không cùng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, ông V đánh đập bà N, và sống không có trách nhiệm với gia đình; hiện nay cả hai mạnh ai nấy sống, không quan tâm đến nhau, cả hai không còn sống chung. Bà N nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn ông Ngô Hoàng V.
Về con chung: Bà N và ông V có 01 người con chung tên Ngô Anh T, sinh ngày 19/11/2019 (Giới tính N1). Khi ly hôn bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn – ông Ngô Hoàng V, thể hiện: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, các văn bản tố tụng nhưng ông V không chấp hành, không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa. Tại phiên tòa mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông V vẫn vắng mặt không lý do.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Về tố tụng, quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân theo pháp luật tố tụng; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn xin vắng mặt, bị đơn đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự là phù hợp. Về nội dung: Quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Dương Thị Quỳnh N, về nuôi con chung: giao cháu Ngô Anh T, sinh ngày 19/11/2019 (Giới tính N1) cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, bà N không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét; Về tài sản chung, nợ chung: đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các bên đương sự.
Về nội dung: [1] Quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Dương Thị Quỳnh N, xét thấy: Quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông V là hợp pháp, trong thời gian chung sống giữa vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không hòa hợp, không biết tôn trọng, nhường nhịn, thương yêu, chia sẽ, giúp đỡ lẫn nhau, giữa bà N và ông V đã không còn chung sống với nhau. Qua kết quả xác minh tại địa phương cho thấy vợ chồng bà N và ông V xảy ra mâu thuẫn là có thật, ông V có đánh đập bà N, ông Vũ s không có trách nhiệm với gia đình, cả hai đã không còn chung sống với nhau. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa ông V vắng mặt không lý do, bà N đề nghị giải quyết vắng mặt. Từ đó chứng tỏ giữa bà N và ông V không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không tồn tại. Vì vậy chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà N là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2] Nuôi con chung: Vợ chồng bà N ông V có với nhau 01 người con chung tên Ngô Anh T, sinh ngày 19/11/2019 (Giới tính N1), khi ly hôn bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con. Xét yêu cầu nuôi con của bà N nhận thấy, khi giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng cần phải đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho con về mọi mặt, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, việc học tập cũng như tinh thần. Từ khi bà N ông V không còn sống chung với nhau thì cháu Ngô Anh T vẫn ở cùng bà N, vẫn được bà N chăm sóc nuôi dưỡng đảm bảo. Vì vậy nên chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà N, giao người con chung Ngô Anh T cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp. Sau khi ly hôn, ông V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[3] Cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- - Điều 21, 28, 35, 39, 227, 228 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;
- - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị Quỳnh N. Bà Dương Thị Quỳnh N được ly hôn ông Ngô Hoàng V.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Ngô Anh T, sinh ngày 19/11/2019 (Giới tính N1) cho bà Dương Thị Quỳnh N trực tiếp nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, ông Ngô Hoàng V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Bà Dương Thị Quỳnh N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0011386 ngày 07 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L.. Bà N đã nộp đủ án phí.
Án xử công khai sơ thẩm, các bên đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA BÙI ĐĂNG |
Bản án số 46/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L., TỈNH B. về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 46/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L., TỈNH B.
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HON, NUOI CON
