TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH Bản án số:46/2024/HS-PT Ngày: 10-9-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Đức Quang
Các Thẩm phán: Ông Bùi Minh Thư
Bà Trần Thị Thu Hiền
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Trần Tiến Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa phúc thẩm xét xử vụ án hình sự thụ lý số 90/2024/TLPT- HS ngày 09 tháng 8 năm 2024, do có kháng cáo của bị cáo Lê Xuân T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST, ngày 26-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
* Bị cáo kháng cáo: Lê Xuân T; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 01/7/1986; nơi sinh: huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; nơi ĐKHKTT: TDP H, thị trấn T, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; CCCD số: [...], ngày cấp: 03/7/2021, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; con ông Lê Văn Đ và bà Lê Thị H; có vợ Trần Thị T1 và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27/5/2015 bị TAND huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh bị xử phạt 24 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" tại bản án số 18/2015/HS-ST, đã chấp hành xong toàn bộ bản án; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/01/2024 đến ngày 18/01/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án này còn có 01 bị cáo và 08 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và không liên quan đến nội dung kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Xuân T làm nghề lái xe tải cho Công ty V có trụ sở đóng tại tỉnh Quảng Bình. Trong quá trình làm việc tại đây, T đã nảy sinh ý định mua pháo đưa về nhà mình để bán kiếm lời. Vào ngày 10/01/2024, do Công ty I việc làm, nên T tranh thủ nhờ người đi xe máy trên đường chở đến địa điểm đón xe ô tô để về nhà. Trên đường chờ đón ô tô từ tỉnh Quảng Bình về huyện N, tỉnh Hà Tĩnh, T ghé vào một khu vực không rõ địa chỉ ven đường mua của một người phụ nữ không quen biết 08 hộp pháo, với giá 6.800.000 đồng (bao gồm 02 hộp pháo loại 49 quả, giá 1.000.000 đồng/hộp và 06 hộp pháo loại 36 quả, giá 800.000 đồng/hộp), rồi bỏ 02 hộp pháo loại 49 quả vào một túi nilông và 06 hộp pháo loại 36 quả vào một thùng catton dán kín, T mang số pháo nói trên đi nhờ xe tải của một người không quen biết, không rõ biển kiểm soát nhằm đưa về bán kiếm lời. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày về đến thị trấn X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh rồi thuê taxi của một người không quen biết, không rõ biển kiểm soát để về thị trấn T, huyện N. Trên đường về, do sợ người nhà biết, nên T gọi điện cho em trai là Lê Xuân T2, trú tại thị trấn T, huyện N đưa giúp số pháo đựng trong thùng catton về nhà T cất dấu cùng với số pháo đựng trong túi nilông do T trực tiếp mang về. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, T mang số pháo đựng trong thùng catton đến nhà Lê Mạnh C (người họ hàng với T) tại thị trấn T, huyện N nhờ cất dấu tại tầng hai. Sau khi T ra về, Lê Mạnh C mở thùng catton ra thấy pháo, nên lấy điện thoại nhắn tin hỏi T: Nếu có ai hỏi mua pháo thì có bán không. T nhắn tin lại: Đồng ý và thống nhất giá bán 1.100.000 đồng/hộp pháo loại 36 quả.
Đến tối ngày 10/01/2024, có Thái Phương H1 đến nhà C chơi, C nói với H1 là có pháo bán, nếu có ai hỏi mua thì giới thiệu cho C, với giá 1.300.000 đồng/hộp loại 36 quả. H1 đồng ý rồi ra về.
Trước đó, vào ngày 09/01/2024, Trần Việt H2 trú tại xã X, huyện N có nhờ H1 mua 01 hộp pháo loại 36 quả - do H2 mua giúp cho Võ Minh G (trú cùng xã), G đã chuyển cho H2 1.300.000 đồng và H2 đã rút tiền mặt đưa cho H1 số tiền nói trên. Tiếp đó, sáng ngày 11/01/2024, Nguyễn Lê Gia B trú tại xã C, huyện N nhờ H1 mua 01 hộp pháo loại 36 quả và được H1 thông báo giá 1.300.000 đồng/hộp. B liền lấy điện thoại của bố là Nguyễn Viết H3 nhắn tin cho Trần Tuấn A trú tại xã C, huyện N hỏi mua pháo không, thì Tuấn A nhắn tin trả lời là có mua và thống nhất giá 1.300.000 đồng/hộp pháo loại 36 quả, cộng thêm 100.000 đồng tiền công. Tuấn A đã chuyển khoản 1.400.000 đồng cho B để mua pháo. Sau khi nhận tiền, B điện thoại liên lạc với H1 xin bớt 50.000 đồng thì được H1 đồng ý và chuyển số tiền 1.250.000 đồng cho H1, qua tài khoản của Đinh Ngọc T3 trú tại thị trấn T, huyện N (bạn của H1) theo yêu cầu của H1 và T3 đã chuyển lại cho H1 số tiền trên.
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 11/01/2024, Thái Phương H1 sử dụng điện thoại của bà ngoại là Nguyễn Thị H4, trú tại xã X, huyện N gọi điện cho Lê mạnh C1, nói: Đưa Trần Việt H2 đến mua pháo, C1 đồng ý. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 11/01/2024 cùng ngày, H1 và H2 đến nhà Lê Mạnh C, C dẫn lên tầng hai, chỉ nơi cất dấu pháo. H1 đưa cho C 2.600.000 đồng và hẹn chiều đưa thêm người đến lấy, rồi mở hộp catton lấy 01 hộp pháo loại 36 quả, đưa xuống cho H2. H2 cất dấu trong áo khoác đang mặc, cùng H1 đi về. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, H2 gặp và đưa hộp pháo đã mua nói trên cho Võ Minh G. Sau đó, G đưa pháo về nhà mình cất dấu để sử dụng.
Trong lúc đó, khoảng 17 giờ cùng ngày, Thái Phương H1 cùng Nguyễn Lê Gia B đến nhà Lê Mạnh C để lấy pháo. C chỉ cho H1 đến vị trí cất dấu, lấy 01 hộp pháo loại 36 quả đưa cho B. B bỏ vào ba lô màu đen rồi đưa về nhà mình cất dấu để sử dụng.
Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, Lê Xuân T đến nhà Lê Mạnh C lấy 2.200.000 đồng, là tiền bán 02 hộp pháo loại 36 quả. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, C điện thoại hỏi T lấy thêm 01 hộp pháo loại 49 quả để bán, thì T đồng ý, đi bộ đến nhà và đưa cho C 01 hộp pháo loại 49 quả, giá 1.350.000 đồng. C sử dụng tài khoản của mình 9966981881 V1 chuyển số tiền 1.350.000 đồng đến tài khoản 0352748777 V1 của Lê Xuân T.
Đến tối ngày 11/01/2024, sau khi nhận được tố giác của quần chúng nhân dân, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Mạnh C tại thị trấn T, huyện N, phát hiện và thu giữ, gồm: 01 thùng catton, bên trong có 04 hộp pháo hình chữ nhật, mỗi hộp có kích thước (14 x 14 x 10) cm, bên ngoài dán giấy có nhiều màu sắc và chữ nước ngoài; 01 hộp pháo hình chữ nhật, có kích thước (17 x 17,5 x 10) cm, bên ngoài dán giấy có nhiều màu sắc và chữ nước ngoài.
Cũng trong tối cùng ngày, Võ Minh G đến Công an xã X, huyện N tự nguyện giao nộp 01 hộp pháo hình chữ nhật, kích thước (14 x 14 x 10) cm, bên ngoài dán giấy có nhiều màu sắc và chữ nước ngoài.
Ngày 12/01/2024, Trần Tuấn A đến Công an huyện N, tự nguyện giao nộp 33 ống hình trụ tròn bằng giấy được liên kết với nhau bằng dây dẫn màu xanh (nguyên là 01 hộp pháo loại 36 quả, nhưng đã bị xé vỏ bọc bên ngoài và cũng chỉ có 33 quả - thiếu 03 quả do lỗi sản xuất).
Ngày 13/01/2024, Lê Xuân T đến Công an huyện N đầu thú, khai nhận về việc bán pháo cho Lê Mạnh C và tự nguyện giao nộp 01 hộp pháo hình chữ nhật, có kích thước (17 x 17,5 x 10) cm, bên ngoài dán giấy có nhiều màu sắc và chữ nước ngoài.
Tại Kết luận giám định số 210/KL-KTHS ngày 17/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận:
- + 04 (bốn) khối hộp hình chữ nhật, mỗi khối hộp có kích thước (14 x 14 x 10) cm, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc và chữ nước ngoài (ký hiệu M1) gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng 4,0kg (bốn kilogam).
- + 01 (một) khối hộp hình chữ nhật, có kích thước (17,5 x 17,5 x 10) cm, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc và chữ nước ngoài (ký hiệu M2) gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng 1,68kg (một phẩy sáu mươi tám kilogam).
- + 33 (ba mươi ba) ống hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn màu xanh (ký hiệu M3) gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng 0,92kg (không phẩy chín mươi hai kilogam).
- + 01 (một) khối hộp hình chữ nhật, có kích thước (14 x 14 x 10) cm, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc và chữ nước ngoài (ký hiệu M4) gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng 1,03kg (một phẩy không ba kilogam).
- + 01 (một) khối hộp hình chữ nhật, có kích thước (17 x 17 x 10) cm, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc và chữ nước ngoài (ký hiệu M5) gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng 1,74 kg (một phẩy bảy mươi bốn kilogam).
Tại cơ quan điều tra, Lê Xuân T và Lê Mạnh C đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.
* Vật chứng thu giữ gồm:
Thu giữ từ Lê Mạnh C: 04 (bốn) khối hộp hình chữ nhật, mỗi khối hộp có kích thước (14 x 14 x 10) cm, bên ngoài dán giấy có nhiều màu sắc và chữ nước ngoài là pháo nổ có khối lượng 4,0 kg (bốn kilogam). Sau khi lấy mẫu giám định còn lại 3,88kg (ba phẩy tám tám kilogam). 01 (một) khối hộp hình chữ nhật, có kích thước (17,5 x 17,5 x 10) cm, bên ngoài dán giấy có nhiều màu sắc và chữ nước ngoài là pháo nổ có khối lượng 1,68kg (một phẩy sáu tám kilogam). Sau khi lấy mẫu giám định còn lại 1,62kg (một phẩy sáu hai kilogam). 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone XS, màu đen, có số IMEI 357202098448237 gắn số sim thuê bao 0966981881, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong. 01 thẻ nhớ DSS 32GB, một mặt màu đỏ trắng, một mặt màu đen. 400.000 đồng, số tiền hưởng lợi từ việc bán pháo. 01 thùng catton màu vàng, có kích thước (29 x 37 x 17) cm.
Thu giữ từ Trần Tuấn Anh: 33 (ba mươi ba) ống hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây màu xanh, mỗi ống hình trụ tròn là pháo nổ có khối lượng 0,92 (không phẩy chín hai kilogam). Sau khi lấy mẫu giám định còn lại 0,82kg (không phẩy tám hai kilogam).
Thu giữ từ Võ Minh G: 01 khối hộp hình chữ nhật kích thước (14 x 14 x 10) cm, bên ngoài dán giấy có nhiều màu sắc và chữ nước ngoài là pháo nổ có khối lượng 1,03kg (một phẩy không ba kilogam). Sau khi lấy mẫu giám định còn lại 0,93kg (không phẩy chín ba kilogam).
Thu giữ từ Lê Xuân T: 01 (một) khối hộp hình chữ nhật, có kích thước (17 x 17 x 10) cm, bên ngoài dán giấy có nhiều hoa văn, màu sắc, có chữ nước ngoài là pháo nổ có khối lượng 1,74kg (một phẩy bảy tư kilogam). Sau khi lấy mẫu giám định còn lại 1,68kg (một phẩy sáu tám kilogam). 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, vỏ màu đen, màn hình cảm ứng, có số IMEI 1: 8621730699418350, IMEI 2: 8621730699418343 gắn số sim thuê bao 0352748777, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong. 3.550.000 đồng, số tiền hưởng lợi từ việc bán pháo.
Tổng khối lượng pháo nổ thu giữ là 9,37kg (chín phẩy ba bảy kilogam). Trong đó, số pháo nổ mà Lê Mạnh C buôn bán là 7,63kg (bảy phẩy sáu ba kilogam), số pháo nổ mà Lê Xuân T buôn bán là 9,37kg (chín phẩy ba bảy kilogam). Tổng số pháo sau khi giám định còn lại 8,93kg (tám phẩy chín ba kilogam).
Ngoài các vật chứng thu giữ nói trên, thì trong quá trình thực hiện hành vi buôn bán hàng cấm, Lê Xuân T sử dụng túi nilông màu đen để đựng pháo đưa từ tỉnh Quảng Bình về huyện N, đã bị T vứt đi; Chiếc balo màu đen của Nguyễn Lê Gia B dùng để đựng pháo đưa cho Trần Tuấn A, nhưng sau đó đã bị B thiêu hủy. Do vậy Cơ quan điều tra không thu giữ được. Các vật chứng thu giữ nói trên, hiện chưa được xử lý.
Với hành vi trên tại Bản án sơ thẩm số 26/2024/HS-ST, ngày 26 tháng 6
năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, điểm đ khoản 1 Điều 32, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Xuân T.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Mạnh C.
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Xuân T và Lê Mạnh C phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Về hình phạt chính:
Xử phạt Lê Xuân T 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/01/2024 đến ngày 18/01/2024. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Xử phạt Lê Mạnh C 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo của người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
Ngày 01/7/2024 bị cáo Lê Xuân T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Xuân T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 26-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Về nội dung: Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Lê Xuân T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, bị cáo cho rằng bị cáo chỉ mua bán 04 hộp pháo mà không phải 08 hộp pháo như cấp sơ thẩm xác định, lý do bị cáo khai nhận mua bán 08 hộp trong quá trình điều tra là do quá trình điều tra điều tra viên đã ép buộc bị cáo khai nhận như vậy.
Xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có lời khai mâu thuẫn với lời khai trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, nhưng bị cáo không cung cấp được chứng cứ tài liệu nào chứng minh lời khai tại cấp phúc thẩm là có căn cứ. Xét lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra gồm đơn xin đầu thú, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung của bị cáo đều phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của Lê Mạnh C và các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử khẳng định: Ngày 11/01/2024, tại thị trấn T, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh, Lê Xuân T và Lê Mạnh C đã có hành vi buôn bán pháo nổ (hàng cấm) với khối lượng 9,37kg (chín phẩy ba bảy kilogam) để kiếm lời. Trong đó, Lê Xuân T buôn bán 9,37kg (chín phẩy ba bảy kilogam), thu lợi bất chính số tiền 3.550.000 đồng (ba triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng); Lê Mạnh C buôn bán 7,63kg (bảy phẩy sáu ba kilogam), thu lợi bất chính số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh, điều, khoản nói trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo Lê Xuân T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo nổ, loại hàng hóa mà Nhà nước quy định là hàng cấm; làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn; bị cáo Lê Xuân T là người trực tiếp mua pháo nổ từ Quảng Bình với khối lượng 9,37kg sau đó nhờ Lê Mạnh C bán pháo nổ cho người khác, thu lợi bất chính lớn hơn, nên giữ vai trò chính trong vụ án; về nhân thân năm 2015, bị cáo bị Tòa án huyện N, tỉnh Hà Tĩnh xét xử 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân, mà tiếp tục có hành vi phạm pháp luật. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, sau khi bị phát hiện đã tự nguyện ra đầu thú và khai báo về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra bị cáo có ông nội Lê Ngọc B1 là liệt sĩ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được chứng cứ để xác định có tình tiết giảm nhẹ nào mới. Xét thấy mức hình phạt 15 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt đối với bị cáo là có cơ sở, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.
Từ những phân tích trên và xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Xuân T.
[4] Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Xuân T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 26-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
- - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, điểm đ khoản 1 Điều 32, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Xuân T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Xuân T 15 (Mười lăm) tháng tù, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/01/2024 đến ngày 18/01/2024. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Lê Xuân T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Đức Quang |
Bản án số 46/2024/HS-PT ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về hình sự (buôn bán hàng cấm)
- Số bản án: 46/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Buôn bán hàng cấm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Xuân Thắng phạm tội Buôn bán hàng cấm
