Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: /2024/HS-PT

Ngày 15 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Trưởng.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đức Thuỷ và ông Nguyễn Mạnh Hùng.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nhật Trung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 54/2024/TLPT-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn C, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn C, sinh năm 1997 tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn Y, xã C, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1; có vợ là Nguyễn Thị Q và 01 con, sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 31/10/2014, bị Công an huyện (nay là thị xã) Duy Tiên xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”; bị tạm giữ từ ngày 23/12/2023 và chuyển tạm giam từ ngày 01/01/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 07 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, kháng nghị, Toà án cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn C không có nghề nghiệp ổn định, nên đã nảy sinh ý định cho vay lãi nặng để thu lời bất chính. Để thuận tiện trong việc cho vay và nhận tiền lãi của người vay, Nguyễn Văn C sử dụng tài khoản ngân hàng M số 6060199756789 của C và mượn thêm tài khoản ngân hàng M số 4141888886789 của anh Trần Văn L (là bạn của C), sau đó nhờ anh L đổi số điện thoại đăng ký nhận thông báo và mã OTP chuyển tiền từ số điện thoại của anh L sang số điện thoại 0931.272.xxx của C để C toàn quyền sử dụng số tài khoản này.

Khoảng tháng 9/2022, anh Phạm Văn H nói chuyện với anh Đinh Hồng T2 về việc đang cần vay tiền để kinh doanh và hỏi T2 có quen ai cho vay tiền thì giới thiệu. Do anh T2 có quan hệ quen biết với C và biết C cho vay lãi nên đã cho số điện thoại 0931.272.xxx của C để anh Hà t liên hệ. Sau đó qua điện thoại anh H liên hệ hỏi vay tiền thì C đồng ý và hẹn gặp tại khu đô thị T, thuộc tổ dân phố V, thị trấn V, huyện L để thỏa thuận. Ngày 20/9/2022, anh H và anh T2 đi đến điểm hẹn gặp C, tại đây anh T2 đứng ở ngoài còn C và anh H ngồi trong xe ô tô của anh H thỏa thuận với nội dung: C cho anh H vay số tiền 50.000.000 đồng, thời hạn vay là 20 ngày, lãi suất vay là 5.000 đồng/triệu/ngày (tương ứng với lãi suất 182,5%/năm) và Công cắt luôn tiền lãi của 20 ngày vay tương ứng với số tiền 5.000.000 đồng. Nếu hết thời hạn vay mà anh H chưa trả được tiền gốc thì phải tiếp tục trả tiền lãi cho C 10 ngày hoặc 20 ngày tiếp theo tương đương số tiền 2.500.000 đồng hoặc 5.000.000 đồng cho đến khi nào trả hết tiền gốc. Sau đó, C đưa cho anh H một mẫu giấy vay tiền để anh H viết thông tin cá nhân của anh H, số tiền vay nhưng không ghi lãi suất và ghi không đúng theo thỏa thuận về thời hạn vay. Sau khi điền các thông tin xong, anh H ký tên vào phần người vay rồi đưa lại cho C. C gọi anh T2 vào và yêu cầu anh T2 phải ký bảo lãnh thì mới cho anh H vay, anh T2 đồng ý và ký bảo lãnh. Sau đó, C đưa cho anh H số tiền 45.000.000 đồng, sau khi trừ tiền cắt lãi trước.

Khi hết thời hạn vay 20 ngày nhưng anh H chưa trả được tiền gốc nên C sử dụng tài khoản Zalo của C (hiện không nhớ tên tài khoản) được đăng ký bằng số điện thoại 0972.214.xxx nhắn tin đến tài khoản Zalo của anh H (đăng ký bằng số điện thoại 0377.156.xxx) số tài khoản ngân hàng của C và của Trần Văn L, yêu cầu anh H chuyển tiền lãi 10 ngày tiếp theo vào tài khoản này. Từ ngày 11/10/2022 đến ngày 29/4/2023, anh H đã 19 lần chuyển tiền, trong đó có 18 lần chuyển từ tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng V1 đến tài khoản của Trần Văn L (gồm 17 lần chuyển số tiền 2.500.000 đồng vào các ngày 11/10/2022; 21/10/2022; 31/10/2022; 09/11/2022; 19/11/2022; 29/11/2022; 09/12/2022; 21/12/2022; 30/12/2022; 10/01/2023; 20/02/2023; 09/3/2023; 20/3/2023; 30/3/2023; 10/4/2023; 22/4/2023; 29/4/2023 và 01 lần số tiền 5.000.000 đồng vào ngày 19/01/2023)và 01 lần đến tài khoản của Nguyễn Văn C (số tiền 2.500.000 đồng ngày 27/02/2023) để trả tiền lãi với tổng số tiền là 50.000.000 đồng.

Sau khi chuyển trả tiền lãi cho C vào ngày 29/4/2023, thì theo thỏa thuận đến ngày 09/5/2023 anh H phải trả lãi tiếp, nhưng do anh H làm ăn thua lỗ, không còn khả năng tiếp tục trả lãi nên C chỉ yêu cầu anh H trả tiền gốc, không yêu cầu trả tiền lãi nữa nhưng anh H vẫn chưa trả được tiền gốc nên Nguyễn Văn C nhiều lần đến nhà anh H để đòi tiền. Ngày 21/12/2023, anh Phạm Văn H làm đơn trình báo gửi đến Cơ quan CSĐT - Công an huyện L hành vi cho vay lãi nặng của Nguyễn Văn C. Đến ngày 23/12/2023, C đi cùng anh Ngô Văn Đ đến nhà anh H đòi số tiền nợ gốc 50.000.000 đồng, khi C vừa nhận được tiền nợ gốc thì bị Cơ quan CSĐT - Công an huyện L phát hiện lập biên bản vụ việc, thu giữ của Nguyễn Văn C: 01 giấy vay tiền đề ngày 20/9/2022 tên người vay Phạm Văn H và số tiền 50.000.000 đồng.

Theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay. Do vậy, số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất mà anh Phạm Văn H phải trả cho Nguyễn Văn C trong 231 ngày vay (từ ngày 20/9/2022 đến ngày 09/5/2023) theo quy định của Bộ luật dân sự là 50.000.000đồng x 231 ngày vay x (20%:365 ngày) = 6.328.767 đồng. Thực tế, số tiền lãi Nguyễn Văn C đã thu của anh Phạm Văn H là 55.000.000 đồng. Đối trừ số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự thì số tiền Nguyễn Văn C đã thu lợi bất chính từ khoản vay trên là: 55.000.000 đồng - 6.328.767 đồng = 48.671.233 đồng.

Đấu tranh mở rộng điều tra còn xác định: Trong khoảng thời gian cuối năm 2022, do đang gặp khó khăn trong kinh doanh bất động sản nên anh Chu Huy V đã 10 lần vay tiền của Nguyễn Văn C với tổng số tiền vay là 2.000.000.000 đồng đều với lãi suất là 3.000 đồng/triệu/ngày. Mỗi lần cho vay thì tùy từng khoản vay mà C cắt lãi trước 10 ngày hoặc 20 ngày và cắt luôn cả tiền lãi của khoản vay trước, cụ thể:

  • Lần thứ 1: Ngày 22/12/2022, tại Văn phòng bất động sản của anh Chu Huy V ở thôn A M, thị trấn V, huyện L, C cho anh V vay 150.000.000 đồng, lãi suất 3.000 đồng/triệu/ngày và cắt lãi trước 20 ngày tương ứng số tiền 9.000.000 đồng. Sau khi trừ đi tiền cắt lãi trước, C đưa cho anh V 141.000.000 đồng tiền mặt.
  • Lần thứ 2: Ngày 16/01/2023, C cho anh V vay số tiền 150.000.000 đồng, C cắt lãi trước số tiền là 5.500.000 đồng. Sau khi trừ tiền cắt lãi, C chuyển cho anh V số tiền 145.500.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản M tên Trần Văn L đến tài khoản ngân hàng B1 số 15110000872050 của anh Chu Huy V.
  • Lần thứ 3: Ngày 10/02/2023, C cho anh V vay số tiền 200.000.000 đồng, C cắt lãi trước số tiền 10.500.000 đồng. Sau khi trừ tiền cắt lãi, C chuyển cho anh V 189.500.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản M tên Trần Văn L đến tài khoản của anh Chu Huy V.
  • Lần thứ 4: Ngày 13/02/2023, C cho anh V vay số tiền 200.000.000 đồng, C cắt lãi trước 6.200.000 đồng. Sau khi trừ tiền cắt lãi, C chuyển cho anh V 193.800.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản M tên Trần Văn L đến tài khoản của anh Chu Huy V.
  • Lần thứ 5: Ngày 20/02/2023, C cho anh V vay số tiền 200.000.000 đồng, C cắt lãi trước 16.500.000 đồng. Sau khi trừ tiền cắt lãi, C chuyển cho anh V 183.500.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản M tên Trần Văn L đến tài khoản của anh Chu Huy V.
  • Lần thứ 6: Ngày 27/02/2023, C cho anh V vay số tiền 200.000.000 đồng, C cắt lãi trước 6.000.000 đồng. Sau khi trừ tiền cắt lãi, C chuyển cho anh V 194.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản M của Nguyễn Văn C đến tài khoản của anh Chu Huy V.
  • Lần thứ 7: Ngày 05/03/2023, C cho anh V vay số tiền 200.000.000 đồng, C cắt lãi trước 12.000.000 đồng. Sau khi trừ tiền cắt lãi, C chuyển cho anh V 188.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản M tên Nguyễn Hữu T3 số 1588888399999 đến tài khoản của anh Chu Huy V.
  • Lần thứ 8: Ngày 06/03/2023, C cho anh V vay số tiền 200.000.000 đồng, C cắt lãi trước 6.000.000 đồng. Sau khi trừ tiền cắt lãi, C chuyển cho anh V số tiền 194.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản M của Nguyễn Văn C đến tài khoản của anh Chu Huy V.
  • Lần thứ 9: Ngày 16/03/2023, C cho anh V vay số tiền 200.000.000 đồng, C cắt lãi trước 12.000.000 đồng. Sau khi trừ tiền cắt lãi, C chuyển cho anh V 188.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản MBBankcủa Nguyễn Văn C đến tài khoản của anh Chu Huy V.
  • Lần thứ 10: Ngày 24/03/2023, C cho anh V vay số tiền 300.000.000 đồng, C cắt lãi trước 23.100.000 đồng. Sau khi trừ tiền cắt lãi, C chuyển cho anh V 276.900.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản M tên Trần Văn L đến tài khoản của anh Chu Huy V.

Trong các lần vay tiền nêu trên, có lần C yêu cầu anh V viết giấy vay, có lần không. Đến ngày 23/4/2023,tại nhà của anh Chu Huy V thì C và anh V thống nhất lại tất cả các khoản vay là 2.000.000.000 đồng rồi C đưa anh V một mẫu giấy vay tiền in sẵn để anh V viết thông tin, nội dung anh V vay của C 2.000.000.000 đồng nhưng không ghi lãi suất cho vay và ghi thời hạn vay không đúng như đã thỏa thuận ban đầu.

Khi đến thời hạn trả tiền gốc của các khoản vay nhưng anh V chưa có để trả thì C nhắn tin đến tài khoản Zalo của anh V (đăng ký bằng số điện thoại 0916.515.xxx) số tài khoản ngân hàng M tên Trần Văn L và yêu cầu anh V chuyển trả tiền lãi của 10 ngày tiếp theo của các khoản vay vào tài khoản này. Sau đó, anh V đã nhiều lần chuyển khoản tiền từ tài khoản ngân hàng B1 số 15110000872050 đến tài khoản ngân hàng M tên Trần Văn L để trả tiền lãi cho C. Tuy nhiên do anh V vay nhiều khoản, thời hạn trả lãi của các khoản vay thường gần hoặc trùng nhau hoặc anh V chuyển trả tiền lãi cho nhiều khoản vay một lần nên đến thời điểm hiện tại cả Nguyễn Văn C và anh V đều không xác định được chính xác số tiền đã chuyển là để trả lãi cho từng khoản vay nào. Căn cứ tài liệu sao kê tài khoản ngân hàng xác định số tiền anh V đã chuyển trả tiền lãi cho Nguyễn Văn C như sau: 09 lần chuyển số tiền 4.500.000 đồng (gồm các ngày 23/01/2023, 27/01/2023, 31/01/2023, 06/02/2023, 15/02/2023, 27/02/2023, 07/3/2023, 17/3/2023, 27/3/2023); 04 lần chuyển số tiền 6.000.000 đồng (vào các ngày 23/02/2023, 20/3/2023, 29/3/2023, 18/4/2023); 06 lần chuyển số tiền 16.500.000 đồng (vào các ngày 02/3/2023, 13/3/2023, 22/3/2023, 01/4/2023, 11/4/2023, 26/4/2023); 01 lần chuyển 12.000.000 đồng (vào ngày 15/3/2023); 02 lần chuyển 18.000.000 đồng (vào ngày 26/3/2023 và 06/4/2023); 01 lần chuyển 21.000.000 đồng (vào ngày 04/4/2023); 01 lần chuyển 3.000.000 đồng (vào ngày 09/4/2023); 01 lần chuyển 35.000.000 đồng (vào ngày 17/4/2023); 01 lần chuyển 2.500.000 đồng (vào ngày 18/4/2023); 01 lần chuyển 37.500.000 đồng (vào ngày 24/4/2023). Tổng số tiền lãi anh V đã trả cho C qua tài khoản ngân hàng và số tiền lãi C đã cắt lãi ban đầu khi cho vay là: 310.500.000 đồng + 106.800.000 đồng = 417.300.000 đồng.

Đến ngày 26/4/2023, sau khi trả tiền lãi lần cuối cùng thì anh V làm ăn thua lỗ, không còn khả năng trả lãi nữa nên C và anh V thống nhất từ ngày 05/5/2023 anh V không phải trả tiền lãi cho 10 khoản vay trên nữa mà chỉ cần trả tiền gốc vay là 2.000.0000.000 đồng. Đến nay anh V chưa trả được cho C khoản tiền vay gốc.

Theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay. Do vậy số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất mà anh V phải trả cho C tính đến thời hạn ngày 05/5/2023 cho tất cả các khoản vay theo quy định của Bộ luật dân sự là:

  • Khoản vay ngày 22/12/2022 là: (20% : 365 ngày) x 135 ngày x 150.000.000 đồng = 11.095.890 đồng.
  • Khoản vay ngày 16/01/2023 là: (20% : 365 ngày) x 110 ngày x 150.000.000 đồng = 9.041.095 đồng.
  • Khoản vay ngày 10/02/2023 là: (20% : 365 ngày) x 85 ngày x 200.000.000 đồng = 9.315.068 đồng.
  • Khoản vay ngày 13/02/2023 là: (20% : 365 ngày) x 82 ngày x 200.000.000 đồng = 8.986.301 đồng.
  • Khoản vay ngày 20/02/2023 là: (20% : 365 ngày) x 75 ngày x 200.000.000 đồng = 8.219.178 đồng.
  • Khoản vay ngày 27/02/2023 là: (20% : 365 ngày) x 68 ngày x 200.000.000 đồng = 7.452.054 đồng.
  • Khoản vay ngày 05/3/2023 là: (20% : 365 ngày) x 62 ngày x 200.000.000 đồng = 6.794.520 đồng.
  • Khoản vay ngày 06/3/2023 là: (20% : 365 ngày) x 61 ngày x 200.000.000 đồng = 6.684.931 đồng.
  • Khoản vay ngày 16/3/2023 là: (20% : 365 ngày) x 51 ngày x 200.000.000 đồng = 5.589.041 đồng.
  • Khoản vay ngày 24/3/2023 là: (20% : 365 ngày) x 43 ngày x 300.000.000 đồng = 7.068.493 đồng.

Như vậy, tổng số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất mà anh V phải trả cho Nguyễn Văn C theo quy định của Bộ luật dân sự của 10 khoản vay là 80.246.571 đồng. Thực tế, số tiền lãi Nguyễn Văn C đã thu của anh V là 417.300.000 đồng. Đối trừ số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự thì số tiền Nguyễn Văn C đã thu lợi bất chính từ 10 khoản vay trên là 337.053.429 đồng.

Cơ quan CSĐT - Công an huyện L đã tiến hành điều tra, xác minh về việc chuyển tiền giữa các tài khoản nêu trên tại các ngân hàng kết quả xác định đúng thời gian và số tiền đã chuyển như đã nêu trên.

Ngày 23/12/2023, Cơ quan CSĐT - Công an huyện L ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn C. Kết quả khám xét đã thu giữ: 01 giấy vay tiền tên người vay Chu Tiến K; 01 sổ ghi chép; ngoài ra quá trình điều tra, ngày 30/01/2024 bà Nguyễn Thị T1 (là mẹ đẻ của C) thay Nguyễn Văn C nộp lại số tiền 6.500.000 đồng để khắc phục hậu quả.

Đối với chiếc điện thoại Nguyễn Văn C sử dụng để liên lạc giao dịch cho vay lãi nặng, Công khai đã làm mất; đối với giấy vay khoản tiền 2.000.000.000 đồng giữa Nguyễn Văn C và anh Chu Huy V, Công khai không nhớ để ở đâu nên Cơ quan CSĐT Công an huyện L không thu giữ được; Đối với 01 sổ ghi chép đã thu giữ Công khai là sổ ghi tiền góp họ và tiền làm ăn buôn bán, không liên quan đến hành vi cho vay lãi nặng.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn C đã tác động gia đình trả lại cho anh Phạm Văn H số tiền 48.500.000 đồng là tiền lãi C thu lợi bất chính của anh H. Anh H đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu đề nghị gì về dân sự; anh Chu Huy V yêu cầu Nguyễn Văn C phải trả lại số tiền lãi đã thu lợi bất chính của anh V là 337.053.429 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 42/2024/HS-ST ngày 08/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đã quyết định: Căn cứ vào Khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2023.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong thời hạn luật định: Ngày 28/3/2024, bị cáo Nguyễn Văn C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
  • Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C trong thời hạn luật định nên vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án cấp phúc thẩm.

Đề nghị: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn C. Và sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 42/2024/HS-ST ngày 08/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam về hình phạt.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1và khoản 2 Điều 51;điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn C 07 (bảy) đến 09 (chín) tháng tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2023.

Ghi nhận bị cáo Nguyễn Văn C nộp 10.000.000 (mười triệu) đồng thi hành án khoản tiền phạt bổ sung, bị cáo đã bồi thường xong.

Về án phí phúc thẩm bị cáo không phải chịu.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C trong thời hạn luật định nên vụ án được Toà án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

[2] Trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn Công k nhận hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; vật chứng vụ án thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở kết luận: Với mục đích cho vay tiền với lãi suất cao để thu lợi bất chính, từ ngày 20/9/2022 đến ngày 09/5/2023, tại tổ dân phố V, thị trấn V, huyện L, Nguyễn Văn C đã cho anh Phạm Văn H vay số tiền 50.000.000đồng trong thời hạn 231 ngày với lãi suất 5.000đồng/triệu/ngày (tương đương lãi suất 182,5%/năm), gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự. Anh H đã trả lãi cho C đối với khoản vay này với tổng số tiền 55.000.000đồng. Số tiền C thu lời bất chính từ khoản vay này là 48.671.233đồng.

Từ ngày 22/12/2022 đến ngày 05/5/2023, cũng trên địa bàn huyện L Nguyễn Văn C đã cho anh Chu Huy V vay 10 lần với tổng số tiền cho vay là 2.000.000.000đồng với lãi suất 3.000đồng/triệu/ngày (tương đương lãi suất 109,5%/năm) gấp 5,475 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự. Anh V đã trả lãi cho C tiền lãi của 10 khoản vay này với tổng số tiền 417.300.000đồng. Số tiền C thu lời bất chính từ các khoản vay này là 337.053.429đồng.

Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Văn C thu lợi bất chính từ 11 khoản tiền cho vay nêu trên là 48.671.233đồng + 337.053.429đồng= 385.724.662 (Ba trăm tám mươi lăm triệu bảy trăm hai mươi tư nghìn sáu trăm sáu mươi hai) đồng.

Hành vi của Nguyễn Văn C là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước, gây thiệt hại cho lợi ích hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo hộ. Hành vi đó của bị cáo đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự như Bản án sơ thẩm là có căn cứ đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn C:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng là “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả do hành vi phạm tội gây ra đối với người liên quan trong vụ án, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, quản lý tiền tệ, là nguyên nhân gây mất an toàn trật tự công cộng, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Ngày 31/10/2014, bị cáo bị Công an huyện (nay là thị xã) Duy Tiên xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác” nhưng đã được xoá tự lâu nên không ảnh hưởng đến vấn đề lương hình đối với bị cáo, do bị cáo phải chịu tình tiết phạm tội nhiều lần nên cấp sơ thẩm áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo, phòng ngừa tội phạm nói chung là phù hợp. Tuy nhiên, tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo đã tích cực thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo Nguyễn Văn C đã nộp khoản tiền phạt bổ sung là 10.000.000 (mười triệu) đồng sung nộp ngân sách nhà nước, gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo yên tâm chấp hành án sớm trở về với gia đình và xã hội.

Vì các lý do nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo và sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 08/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam về hình phạt.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn C. Bản án hình sự sơ thẩm số: 42/2024/HS-ST ngày 08/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam về hình phạt.

[1].Về trách nhiệm hình: Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2023.

[2]. Về hình phạt bổ sung: Ghi nhận bị cáo Nguyễn Văn C nộp 10.000.000 (Mười triệu) đồng thi hành án khoản tiền phạt bổ sung, bị cáo đã bồi thường xong.

[3]. Về án phí phúc thẩm hình sự: Bị cáo không phải nộp.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • VKSND tỉnh Hà Nam;
  • Sở Tư pháp;
  • TAND huyện Lý Nhân;
  • VKSND huyện Lý Nhân;
  • Công an huyện Lý Nhân;
  • Chi cục thi hành án dân sự huyện Lý Nhân;
  • Phòng HSNV Công an tỉnh Hà Nam;
  • Bị cáo;
  • Bị hại
  • Lưu HS, Tòa hình sự, Bộ phận HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quốc Trưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số /2024/HS-PT ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: /2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, phạm tội đối với nhiều người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger