|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2024/HS-ST Ngày: 10/5/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Ngọc Lâm;
- Các hội thẩm nhân dân: 1/Bà Phạm Thị Lan;
- 2/Ông Nguyễn Hải Đương;
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 23/02/2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 22/3/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thị H, sinh năm 1996 tại: huyện V, tỉnh Hưng Yên; Giới tính: Nữ;
Nơi cư trú: thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trần Văn Đ (đã chết); Con bà: Khúc Thị V, sinh năm 1974. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất;
Chồng: Khúc Chí H1, sinh năm 1996;
Bị cáo có 01 con, sinh năm 2024;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/10/2023, có mặt tại phiên tòa.
*Bị hại: Công ty TNHH B (B);
Địa chỉ: Tầng A tháp Tây tòa L L, phường C, quận B, thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo ủy quyền: ông Đỗ Việt C – Trưởng Phòng pháp chế và ông Đinh Hải L – Nhân viên bộ phận Giải quyết quyền lợi bảo hiểm;
(Đều vắng mặt tại phiên tòa).
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh: Trần Văn Đ1, sinh năm 2001;
- Ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1972;
- Ông: Nguyễn Văn H2, sinh năm 1975;
- Anh: Nguyễn Văn T, sinh năm 1986;
- Anh: Nguyễn Văn H2, sinh năm 1998;
Đều trú tại: thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên;
Trú tại: số A Phố N, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
Trú tại: thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
(Đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 20/6/2023, Cơ quan An ninh điều tra - Công an tỉnh H tiếp nhận hồ sơ tin báo tố giác tội phạm của Phòng An ninh chính trị nội bộ - Công an tỉnh H với nội dung: Nguyễn Văn T, sinh năm 1986, địa chỉ: phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Bạch Kim T1, sinh năm 1986, địa chỉ: phường Q, thành phố P, tỉnh Hà Nam; Lê Thị L1, sinh năm 1988, địa chỉ: xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam; Nguyễn Văn H2, sinh năm 1998, địa chỉ: xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên làm giả Giấy ra viện của Bệnh viện đa khoa tỉnh H sau đó làm hồ sơ gửi yêu cầu thanh toán quyền lợi bảo hiểm đến Công ty TNHH B (gọi tắt là Công ty B) để chiếm đoạt tiền bảo hiểm của Công ty B.
Quá trình điều tra đã phát hiện Trần Thị H, sinh năm 1996, HKTT: thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên đã làm 14 giấy ra viện giả mang tên nhiều người trong đó có hồ sơ các đối tượng nêu trên, sau đó H gửi yêu cầu thanh toán quyền lợi bảo hiểm đến Công ty B và đã chiếm đoạt của Công ty B số tiền: 37.400.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra, Trần Thị H khai nhận: Năm 2021, Trần Thị H là nhân viên văn phòng (cộng tác viên) tổng đại lý A - thuộc Công ty TNHH B (B). H được giao nhiệm vụ hỗ trợ giải quyết quyền lợi bảo hiểm cho khách hàng, trong đó có quy trình yêu cầu thanh toán bảo hiểm trực tuyến qua mạng Internet. H nhận thấy hình thức này có nhiều sơ hở nên đã nảy sinh ý định làm giả giấy ra viện để chiếm đoạt tiền chi trả bảo hiểm của Công ty B. H đã tải ảnh các giấy ra viện được lưu trong máy tính bảng do Công ty cung cấp trên trang Wed remove.bg để tách phần dấu tròn cơ sở khám bệnh và chữ ký, dấu chức danh của người đại diện Bệnh viện ra khỏi giấy ra viện. Đồng thời, H tiến hành đánh máy lại các nội dung trên giấy ra viện rồi in ra khổ giấy A5 và trực tiếp tự ký vào các phần trưởng khoa. Sau đó, H tiếp tục chụp ảnh và ghép ảnh dấu, chữ ký đã tách ra vào ảnh giấy ra viện đã đánh máy nội dung để làm thủ tục thanh toán quyền lợi bảo hiểm với Công ty B. Với thủ đoạn, cách thức làm, tạo giấy ra viện giả trên máy tính như trên, từ ngày 15/4/2021 đến ngày 24/02/2022, H đã làm giả 14 giấy ra viện mang tên Trần Thị H (01 giấy); Trần Văn Đ1, sinh năm 2001, HKTT: thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên (01 giấy); Nguyễn Văn T, sinh năm 1986, HKTT: số A Phố N, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên (04 giấy); Nguyễn Văn T, sinh năm 1972, HKTT: thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên (02 giấy); Nguyễn Văn H2, sinh năm 1998, HKTT: thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên (06 giấy) để chiếm đoạt tiền của Công ty B. Sau khi làm 14 giấy ra viện giả, Trần Thị H đã gửi 14 giấy ra viện giả trên đến Công ty B bằng hình thức trực tuyến qua mạng Internet yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm cho H, Đ1, T (sinh năm 1986), T (sinh năm 1972) và H2. Để được Công ty B thanh toán quyền lợi bảo hiểm H đã mở tài khoản Ngân hàng trực tuyến cho Nguyễn Văn T, sinh năm 1972 tại Ngân hàng TMCP Q, số tài khoản 0375535726 và mở tài khoản cho Nguyễn Văn H2, sinh năm 1975, HKTT: thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên tại ngân hàng TMCP Q, số tài khoản 0001746985494. Các tài khoản này do H quản lý, sử dụng nên chủ tài khoản không biết.
Công ty B đã chi trả đối với 10 giấy ra viện, cụ thể như sau:
- Ngày 15/4/2021, H gửi yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm kèm giấy ra viện mang tên Trần Văn Đ1. H nhờ Đ1 nhận tiền chi trả từ Công ty B (Đ1 không biết H gửi yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm và được Công ty B chi trả tiền mang tên mình). Ngày 19/4/2021, Công ty B chuyển khoản số tiền: 4.400.000 đồng vào tài khoản số: [...] mang tên Trần Văn Đ1. Cùng ngày, Trần Văn Đ1 chuyển khoản số tiền: 4.400.000 đồng vào tài khoản 063011502005 mang tên Trần Thị H.
- Ngày 23/02/2022, H gửi yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm kèm giấy ra viện mang tên Nguyễn Văn T, sinh năm 1972. Ngày 24/02/2022, Công ty B chuyển khoản số tiền: 2.200.000 đồng để đóng phí hợp đồng U913214268 của Nguyễn Văn T (H nhận số tiền 7.950.000 đồng của Trần Thị D để đóng phí hợp đồng nhưng H chỉ đóng 5.750.000 đồng và chiếm đoạt 2.200.000 đồng).
- Công ty B đã chi trả cho H 03 lần đối với các giấy ra viện mang tên Nguyễn Văn T, sinh năm 1986 bằng hình thức chuyển khoản tiền vào tài khoản số: 0375535726 mang tên Nguyễn Văn T, sinh năm 1972 (tài khoản này do H quản lý). Cụ thể, ngày 04/11/2021, H gửi yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm kèm giấy ra viện, cùng ngày Công ty B chi trả số tiền: 2.000.000 đồng; ngày 05/11/2021, H gửi yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm kèm giấy ra viện đến ngày 08/11/2021, Công ty B chi trả: 2.800.000 đồng; ngày 21/01/2022, H gửi yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm kèm giấy ra viện đến ngày 24/01/2022 Công ty B chi trả: 3.600.000 đồng
- Công ty B đã chi trả cho H 05 lần đối với các giấy ra viện mang tên Nguyễn Văn H2, sinh năm 1998 bằng hình thức chuyển khoản tiền vào tài khoản số 0001746985494 mang tên Nguyễn Văn H2, sinh năm 1975 (tài khoản này do H quản lý). Cụ thể, ngày 07/10/2021, H gửi yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm kèm giấy ra viện đến ngày 08/10/2021 Công ty B chi trả số tiền: 4.000.000 đồng; ngày 08/10/2021, H gửi yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm kèm giấy ra viện cùng ngày 08/10/2021 Công ty B chi trả: 4.400.000 đồng; ngày 15/10/2021, H gửi yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm kèm giấy ra viện cùng ngày 15/10/2021 Công ty B chi trả: 6.000.000 đồng; ngày 29/10/2021, H gửi yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm kèm giấy ra viện cùng ngày 29/10/2021 Công ty B chi trả: 3.600.000 đồng; ngày 29/10/2021, H gửi yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm kèm giấy ra viện đến ngày 30/10/2021 Công ty B chi trả: 4.400.000 đồng.
Trần Thị H không phải là đối tượng thụ hưởng của các hợp đồng bảo hiểm nhưng đã có hành vi làm giả 14 hồ sơ yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm để chiếm đoạt của Công ty B thông qua hình thức chi trả trực tuyến tổng số tiền là: 37.400.000 đồng.
Đối với Trần Văn Đ1, Nguyễn Văn T, sinh năm 1972, Nguyễn Văn T, sinh năm 1986, Nguyễn Văn H2, sinh năm 1998 khai nhận: Trong quá trình mua bảo hiểm của Công ty B không bị bệnh và khám chữa bệnh ở cơ sở y tế nào, không gửi yêu cầu thanh toán quyền lợi bảo hiểm đến Công ty B và không được hưởng lợi gì từ việc H chiếm đoạt tiền của Công ty B nên không có căn cứ xử lý. Đối với Nguyễn Văn T, sinh năm 1972, Nguyễn Văn H2, sinh năm 1975 không lập và sử dụng các tài khoản Ngân hàng TMCP Q, không biết H lập và sử dụng tài khoản Ngân hàng mang tên mình và không được hưởng lợi ích gì từ việc H sử dụng các tài khoản Ngân hàng để để nhận tiền thanh toán quyền lợi bảo hiểm từ Công ty B nên không có căn cứ xử lý.
Cũng trong quá trình mở rộng điều tra, Cơ quan An ninh điều tra - Công an tỉnh H còn phát hiện hành vi có dấu hiệu “Gian lận trong kinh doanh bảo hiểm" quy định tại điều 213 Bộ luật Hình sự và “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức; Sử dụng con dấu tài liệu giả của Cơ quan tổ chức” quy định tại điều 341 Bộ luật Hình sự của Nguyễn Thị H3, sinh năm 1994, HKTT: thôn M, xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam và một số đối tượng khác. Tuy nhiên, hành vi có dấu hiệu tội phạm của H3 và các đối tượng khác được xác định xảy ra trên địa bàn tỉnh Hà Nam. Ngày 05/02/2024, Cơ quan ANĐT - Công an tỉnh H đã chuyển toàn bộ hồ sơ, tài liệu đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H để giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, Trần Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Về vật chứng của vụ án: Không.
Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 37.400.000 đồng, ông Đỗ Việt C và ông Đinh Hải L đại dện cho Công ty B yêu cầu bị cáo phải trả lại Công ty B số tiền này, đến nay bị cáo chưa trả.
Bản cáo trạng số: 30/CT-VKS-P1 ngày 23/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Trần Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố: Bị cáo Trần Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và khoản 1, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị H từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra xem xét.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về án phí theo quy định của pháp luật.
*Bị cáo Trần thị H trình bày: Nhất trí và không có quan điểm tranh luận với nội dung bản luận tội. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh H và Điều tra viên; Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của những người bị hại, những người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng năm 2021, bị cáo là nhân viên văn phòng (cộng tác viên) tổng đại lý A - thuộc Công ty TNHH B (B), được giao nhiệm vụ hỗ trợ giải quyết quyền lợi bảo hiểm cho khách hàng, trong đó có quy trình yêu cầu thanh toán bảo hiểm trực tuyến qua mạng Internet. Nhận thấy hình thức này có nhiều sơ hở nên bị cáo đã nảy sinh ý định làm giả giấy ra viện để chiếm đoạt tiền chi trả bảo hiểm của Công ty B. Bị cáo đã tải ảnh các giấy ra viện được lưu trong máy tính bảng do Công ty cung cấp trên trang Wed remove.bg để tách phần dấu tròn cơ sở khám bệnh và chữ ký, dấu chức danh của người đại diện Bệnh viện ra khỏi giấy ra viện. Đồng thời, bị cáo tiến hành đánh máy lại các nội dung trên giấy ra viện rồi in ra khổ giấy A5 và trực tiếp tự ký vào các phần trưởng khoa. Sau đó, tiếp tục chụp ảnh và ghép ảnh dấu, chữ ký đã tách ra vào ảnh giấy ra viện đã đánh máy nội dung để làm thủ tục thanh toán quyền lợi bảo hiểm với Công ty B. Với thủ đoạn, cách thức làm, tạo giấy ra viện giả trên máy tính như trên, từ ngày 15/4/2021 đến ngày 24/02/2022, bị cáo đã làm giả 14 giấy ra viện mang tên 04 đối tượng đóng bảo hiểm để chiếm đoạt tiền của Công ty B. Sau khi làm 14 giấy ra viện giả, bị cáo đã gửi 14 giấy ra viện giả trên đến Công ty B bằng hình thức trực tuyến qua mạng Internet yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm cho bị cáo và các đối tượng trên. Để được Công ty B thanh toán quyền lợi bảo hiểm bị cáo đã mở tài khoản Ngân hàng trực tuyến cho Nguyễn Văn T, sinh năm 1972 và Nguyễn Văn H2, sinh năm 1975. Các tài khoản này do bị cáo quản lý, sử dụng nên chủ tài khoản không biết.
Trần Thị H không phải là đối tượng thụ hưởng của các hợp đồng bảo hiểm nhưng đã có hành vi làm giả 14 hồ sơ yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm để chiếm đoạt của Công ty B thông qua hình thức chi trả trực tuyến tổng số tiền là: 37.400.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong việc thanh toán chi trả bảo hiểm của Công ty B, đưa ra các thông tin không đúng sự thật làm cho người bị hại tin tưởng chuyển tiền cho bị cáo tiêu xài cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo gây bất bình trong dư luận và làm mất trật tự trị an tại địa phương.
[4]. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo:
- +Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Số tiền bị cáo lừa đảo chiếm đoạt, bị cáo đã tự nguyện nộp lại đủ cho bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hoàn cảnh gia đình bị cáo hiện rất khó khăn, bị cáo đang trực tiếp nuôi dưỡng con nhỏ mới sinh; bị cáo có nhân thân tốt, quá trình sinh sống tại địa phương chấp hành tốt mọi chủ trương của Đảng pháp luật của Nhà nước cũng như mọi quy định do địa phương đề ra, bị cáo trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn và xin được giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo có bố đẻ tham gia quân đội được tặng thưởng Huy chương và chiến sỹ thi đua. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- +Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi gian dối để chiếm đoạt tài sản và nhiều lần chiếm đoạt có số lượng tiền trên 2.000.000 đồng. Do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- +Về đặc điểm nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[5]. Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã phân tích ở trên, xét thấy: Mặc dù bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nhưng bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền bị cáo chiếm đoạt không lớn, đến nay, số tiền bị cáo chiếm đoạt bị cáo đã tự nguyện nộp trả toàn bộ cho bị hại. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự lần đầu bị cáo phạm tội, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, hiện đang phải nuôi con nhỏ mới sinh. Quá trình sinh sống tại địa phương bản thân và gia đình chấp hành tốt mọi chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng như mọi quy định do địa phương đề ra. Do vậy, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết phải cách li bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mà tuyên phạt bị cáo hình phạt tù có điều kiện, giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi cư trú như nội dung đề xuất của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với động cơ vụ lợi, lẽ ra phải phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, hiện đang nuôi con nhỏ nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ số tiền 37.400.000 đồng đã chiếm đoạt. Do vậy, không đặt ra xem xét.
*Về vật chứng: Không đặt ra xem xét.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 3, Điều 21 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” .
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và khoản 1, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Trần Thị H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm. Thời hạn kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên quản lý, giám sát trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 37.400.000 đồng (Ba mươi bảy triệu bốn trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0000239 ngày 25/3/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên để khắc phục hậu quả cho bị hại.
4. Về án phí:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Lâm |
Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 46/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị H phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại AIA
