TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10 - 5 – 2024. Về việc: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thông Phi và bà Huỳnh Thị Yến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 55/2024/TLST–HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024, về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2014/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1980; nơi cư trú: Số D đường số B Thôn D, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt, có đơn xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1983; nơi cư trú: Số C đường số B Thôn E, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận (Vắng mặt, có đơn xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Theo đơn khởi kiện, lời khai đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh H trình bày:
Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị Thanh H, anh Nguyễn Minh T tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận vào ngày 11/12/2015. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Do không hợp tính nhau, anh T có tính gia trưởng, mọi việc phải làm theo anh T, anh T không tôn trọng chị H; ngoài ra anh T còn thường xuyên uống rượu rồi gây gỗ, chửi mắng chị H; từ đó dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Vì không thể tiếp tục chung sống với anh T nên chị H đã chuyển đi nơi khác sinh sống làm việc và vợ chồng không còn chung sống từ cuối năm 2023 đến nay, không còn quan tâm đến nhau.
Nhận thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng còn tình cảm với nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã nghiêm trọng không thể nào hàn gắn đoàn tụ nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn
Về con chung: chị H, anh T không có con chung.
Về tài sản chung: chị H không yêu cầu giải quyết.
[2]. Theo lời khai đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, bị đơn anh Nguyễn Minh T trình bày:
Anh T và chị H tự nguyện kết hôn đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận vào năm 2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng ít có thời gian ở bên nhau do nơi làm việc xa nhau; từ đó vợ chồng ít có thời gian để quan tâm nhau; thỉnh thoảng vợ chồng có xảy ra bất đồng quan điểm, cải nhau vì các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày nhưng chưa đến mức nghiêm trọng, chưa có xảy ra xô xát đánh nhau. Hiện nay anh T vẫn mong muốn vợ chồng cố gắng hòa giải để sống đoàn tụ, hòa thuận với nhau nên anh T không đồng ý ly hôn.
Về con chung: chị H, anh T không có con chung.
Về tài sản chung: anh T không yêu cầu giải quyết.
[3]. Các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án:
Các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp: 01 Trích lục kết hôn (bản sao) số 102/TLKH-BS ngày 15/02/2024 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Ngoài ra, Tòa án đã tiến hành xác minh về tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị H và anh T và lập các Biên bản xác minh ngày 06/3/2024 và ngày 09/4/2024 (Bút lục số 13 và 24).
[4]. Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh:
- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, thư ký đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ý kiến đề nghị việc giải quyết vụ án: Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận tòa bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh H; xử cho chị H được ly hôn với anh Nguyễn Minh T; buộc chị H phải nộp 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự, nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh phát biểu ý kiến, quan điểm giải quyết vụ án. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh H và bị đơn anh Nguyễn Minh T đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự là phù hợp.
[2]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Trong vụ án chỉ có yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh H, yêu cầu giải quyết ly hôn; ngoài ra không có yêu cầu nào khác của các đương sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn” căn cứ theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp.
Tranh chấp dân sự quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp; các đương sự đều có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về yêu cầu giải quyết ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh H, Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ trích lục kết hôn (bản sao) số 102/TLKH-BS ngày 15/02/2024 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận mà nguyên đơn chị H đã cung cấp; căn cứ lời khai phù hợp, thống nhất của các đương sự; có đủ cơ sở xác định được: nguyên đơn chị H và bị đơn anh T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T là hợp pháp. Vì vậy, chị H có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nguyên đơn chị H khẳng định: vợ chồng chỉ chung sống hòa thuận, hạnh phúc được khoảng thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn; vợ chồng không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm về các vấn đề trong cuộc sống, anh T thường xuyên uống rượu rồi gây gỗ cải nhau với chị H dẫn đến cuộc sống không hạnh phúc và vợ chồng cũng đã không còn sống chung từ cuối năm 2023 đến nay. Bị đơn anh Nguyễn Minh T thừa nhận vợ chồng có nhiều khi xãy ra mâu thuẫn, gây gỗ, cải nhau do bất đồng quan điểm về các vấn đề trong cuộc sống. Tại Biên bản xác minh ngày 06/3/2024 (Bút số 13) và Biên bản xác minh ngày 09/4/2024 (bút lục số 24), người dân địa phương xã H đã
cung cấp thông tin: Trong thời gian chung sống, do chị H đi làm việc ở xa nên giữa vợ chồng chị H, anh T đã xảy ra mâu thuẫn, gây gỗ, cải nhau và chị H, anh T cũng đã không còn chung sống với nhau. Ngoài ra, trong quá trình tố tụng, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng chị H cương quyết yêu cầu giải quyết ly hôn, không có nguyện vọng đoàn tụ, còn anh T vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ được; điều này cho thấy chị H và anh T không có nguyện vọng đoàn tụ. Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở xác định được: Vợ chồng chị H, anh T đã phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị H yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận, xử cho chị H được ly hôn với anh T.
[3.2]. Về con chung và tài sản chung: Các đương sự đều xác định không có còn chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[4]. Về án phí: Cần căn cứ khoản 4 điều 147, khoản 3 Điều 144 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: buộc chị Nguyễn Thị Thanh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[5]. Về ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận: Ý kiến đề nghị giải quyết vụ án của của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh là có căn cứ và phù hợp với quy định của Pháp luật nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, khoản 3 Điều 144, các Điều 227, 228, 238, 273, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh H: chị Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.
[2]. Về án phí: buộc chị Nguyễn Thị Thanh H phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005697
ngày 19/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; sau khi khấu trừ, chị Nguyễn Thị Thanh H đã nộp đủ tiền án phí.
[3]. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự đều được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết (Đã giải thích quyền kháng cáo).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Văn Khánh |
Bản án số 46/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn
- Số bản án: 46/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thanh H ly hôn Nguyễn Minh T
