Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/DS-ST

Ngày: 09/9/2024

V/v tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Dũng và bà Nguyễn Thị Kiều Trang.
  • Thư ký phiên toà: Ông Ngô Tấn Bửu, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 78/2022/TLST-DS ngày 01/4/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 131/2024/QĐST-DS ngày 08/8/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K1. Trụ sở: Số D, 42, D P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M - Chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trung V – Chức vụ: Phó Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Khoa H - Chuyên viên Xử lý nợ khu vực - Phòng Xử lý nợ - Ngân hàng TMCP K1. Địa chỉ: Ngân hàng TMCP K1 - Chi nhánh A; số B đường L, khóm C, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (có mặt).

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1968 và ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1965; Cùng thường trú: tổ E, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Địa chỉ liên lạc: Số F L, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0812.456.xxx (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 29/12/2023 của Ngân hàng Thương mại cổ phần K1, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn K có vay Ngân hàng TMCP K1 (gọi tắt là Ngân hàng) với số tiền là 150.000.000 đồng, theo hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 868/21/HĐHM/1202-5722 ngày 16/12/2021 và hợp đồng tín dụng từng lần số 868/21/HĐTD/1202-5722 ngày 16/12/2021. Mục đích vay để bổ sung vốn sản xuất nông nghiệp; thời hạn vay là 12 tháng, kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên; lãi suất vay 12.9%/năm; lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; mức phạt chậm trả lãi 10%/năm; hình thức thanh toán: Kỳ hạn trả lãi vay, nợ gốc và số nợ gốc phải trả mỗi kỳ được quy định cụ thể trên từng khế ước nhận nợ. Hợp đồng tín dụng nêu trên được bảo đảm bởi hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và/hoặc tài sản gắn liền với đất số 868/21/HĐTC-BĐS/1202-5722 ngày 16/12/2021 được chứng thực tại Văn phòng C, tỉnh An Giang, tài sản thế chấp bảo đảm nợ vay gồm: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DC 947262, số vào sổ cấp GCN: CH 11629 do Sở Tài Nguyên và Môi trường cấp ngày 24/11/2021, cho bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn K, với các đặc điểm cụ thể như sau: Thửa đất số: 371, tờ bản đồ số: 15, tọa lạc phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Tổng diện tích: 49.2m². Mục đích sử dụng đất: Đất ở đô thị.

Sau khi nhận tiền vay, ông K, bà N trả lãi đến ngày 17/3/2022, với số tiền 4.771.233 đồng và không trả lãi vốn cho đến nay. Trong quá trình vay vốn, bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn K liên tục vi phạm hợp đồng, không thanh toán nợ cho Ngân hàng khi đến hạn, Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở nhưng bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn K không thanh toán nợ theo thỏa thuận như trong hợp đồng tín dụng và hiện tại hợp đồng đã quá hạn thanh toán nhưng bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn K vẫn chưa thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng.

Đến ngày 09/9/2024, bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn K còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là: 215.818.975 đồng (trong đó: vốn gốc là 150.000.000 đồng; lãi trong hạn là 14.414.219 đồng; lãi quá hạn là 48.542.75 đồng; tiền phạt chậm trả lãi là 2.861.961 đồng).

Ngân hàng TMCP K1 yêu cầu bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn K trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 09/9/2024 là 215.818.975 đồng (trong đó: vốn gốc là 150.000.000 đồng; lãi trong hạn là 14.414.219 đồng; lãi quá hạn là 48.542.75 đồng; tiền phạt chậm trả lãi là 2.861.961 đồng) và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi thanh toán dứt nợ.

Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và/hoặc tài sản gắng liền với đất số 868/21/HĐTC-BĐS/1202-5722 ngày 16/12/2021 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K1 – P với bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn K để đảm bảo cho việc thi hành án. Trường hợp bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn K không trả hoặc trả không dứt nợ trong thời gian thỏa thuận hoặc khi bản án có hiệu lực thì Ngân hàng có quyền yêu cầu kê biên, phát mãi tài sản thế chấp nêu trên.

Kèm theo đơn khởi kiện, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cung cấp các tài liệu và chứng cứ đã nêu tại biên bản phiên họp về kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 12/7/2024 (BL 83-84).

Quá trình tố tụng ông Nguyễn Văn K: Trước đây, ông K và bà N (vợ ông K), có vay Ngân hàng TMCP K1 (gọi tắt là Ngân hàng) với số tiền là 150.000.000 đồng, theo hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 868/21/HĐHM/1202-5722 ngày 16/12/2021 và hợp đồng tín dụng từng lần số 868/21/HĐTD/1202-5722 ngày 16/12/2021. Mục đích vay để bổ sung vốn sản xuất nông nghiệp; thời hạn vay là 12 tháng, kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên; lãi suất vay 12.9%/năm; lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; mức phạt chậm trả lãi 10%/năm; hình thức thanh toán: Kỳ hạn trả lãi vay, nợ gốc và số nợ gốc phải trả mỗi kỳ được quy định cụ thể trên từng KUNN. Hợp đồng tín dụng nêu trên được bảo đảm bởi Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và/hoặc tài sản gắng liền với đất số 868/21/HĐTC-BĐS/1202-5722 ngày 16/12/2021 được chứng thực tại Văn phòng C, tỉnh An Giang, tài sản thế chấp bảo đảm nợ vay gồm: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DC 947262, số vào sổ cấp GCN: CH 11629 do Sở T cấp ngày 24/11/2021, cho bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn K, với các đặc điểm cụ thể như sau: Thửa đất số: 371, tờ bản đồ số: 15, tọa lạc tại phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Tổng diện tích: 49.2m². Mục đích sử dụng đất: Đất ở đô thị. Sau khi vay, tôi đã trả lãi cho Ngân hàng đến ngày 23/3/2022, số tiền 4.771.233 đồng và ngưng cho đến nay không trả vốn, lãi. Hiện nay còn nợ Ngân hàng số tiền vốn gốc 150.000.000 đồng và lãi từ ngày 17/3/2022 cho đến nay. Ông K đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Đối với bà N thì ông K đã cho bà N biết việc Ngân hàng khởi kiện đòi nợ vay tại Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu nhưng bà N bận công việc không về được.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án số 231/TB-TLVA ngày 01/4/2024 và các văn bản tố tụng cho bị đơn bà N thông qua người thân là ông K (là chồng bà N và là bị đơn) nhưng đến nay bà N không tham gia tố tụng và cung cấp văn bản ý kiến của mình cho Tòa án.

Những tài liệu trong quá trình giải quyết vụ án đã thu thập:

Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp ngày 02/7/2024 thể hiện: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DC 947262, số vào sổ cấp GCN: CH 11629 do Sở Tài Nguyên và Môi trường cấp ngày 24/11/2021, cho bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn K, với các đặc điểm cụ thể như sau: thửa đất số: 371, Tờ bản đồ số: 15, tọa lạc tại phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Tổng diện tích: 49.2m². Mục đích sử dụng đất: Đất ở đô thị. Có tứ cận: Phía Đông giáp với hẻm công cộng; phía Tây giáp với hộ Lâm M1; phía Nam giáp hộ Lâm Thị M2; phía Bắc giáp với hộ Nguyễn Văn B. Trên phần đất có một hàng rào kéo lưới B40, xây trên nền gạch tráng xi măng cao 50 cm, cột bê tông.

Công an phường L, thị xã T, tỉnh An Giang cung cấp thông tin như sau: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1968 và ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1965; Cùng thường trú: tổ E, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang.

Ý kiến của Kiểm sát viên:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong thời gian chuẩn bị xét xử đúng pháp luật. Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét sử sơ thẩm vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn bà N vắng mặt lần thứ hai không lý do, Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn phù hợp tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về giải quyết vụ án, hợp đồng hạn mức tín dụng và hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng TMCP K1 với ông K, bà N được ký kết trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, do ông K, bà N vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ vốn và lãi đến hạn theo hợp đồng đã ký kết nên việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu thanh toán số tiền nợ vốn, lãi và duy trì hợp đồng thế chấp; trường hợp bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn K không trả hoặc trả không dứt nợ khi bản án có hiệu lực thì Ngân hàng có quyền yêu cầu kê biên, phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để đảm bảo cho việc thi hành án là có căn cứ.

Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 147, Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K1, buộc ông K, bà N trả nợ cho Ngân hàng TMCP K1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 09/9/2024 là 215.818.975 đồng (trong đó: vốn gốc là 150.000.000 đồng; lãi trong hạn là 14.414.219 đồng; lãi quá hạn là 48.542.75 đồng; tiền phạt chậm trả lãi là 2.861.961 đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng hạn mức tín dụng từ ngày 10/9/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ vay.

Tiếp tục duy trì tài sản thế chấp quyền sử dụng 49.2m² đất, thửa đất số: 371, tờ bản đồ số: 15, tọa lạc phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, mục đích sử dụng đất: Đất ở đô thị theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DC 947262, số vào sổ cấp GCN: CH 11629 do Sở Tài Nguyên và Môi trường cấp ngày 24/11/2021, cho bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn K. Trường hợp bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn K không trả hoặc trả không dứt nợ khi bản án có hiệu lực thì Ngân hàng có quyền yêu cầu kê biên, phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để đảm bảo cho việc thi hành án (Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và/hoặc tài sản gắn liền với đất số 868/21/HĐTC-BĐS/1202-5722 ngày 16/12/2021 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K1 – P với bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn K).

Đương sự phải chịu chi phí tố tụng và án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Về tố tụng:

  1. Thời hiệu khởi kiện: Hợp đồng hạn mức tín dụng giữa Ngân hàng TMCP K1 với bị đơn ký kết ngày 16/12/2021, thời hạn vay 12 tháng, ngày giải ngân 17/12/2021, ngày đến hạn 17/12/2022. Ngày 02/10/2023, Ngân hàng khởi kiện do ông K, bà N vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ là còn thời hiệu quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  2. Thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn có khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản (hợp đồng hạn mức tín dụng) với bị đơn ông K, bà N, nơi thường trú: khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Tranh chấp này được Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu thụ lý, giải quyết theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí và Tòa án thụ lý giải quyết.
  3. Về quan hệ pháp luật: Ngày 02/10/2023, Ngân hàng TMCP K1 cho ông K, bà N vay tổng số tiền 150.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, mục đích vay bổ sung vốn sản xuất nông nghiệp. Để đảm bảo cho khoản vay này ông K, bà N đã thế chấp tài sản của ông K, bà N cho Ngân hàng. Do ông K, bà N vi phạm hợp đồng hạn mức tín dụng nên Ngân hàng đã khởi kiện ông K, bà N, yêu cầu ông K, bà N phải thực hiện hợp đồng hạn mức tín dụng đã ký kết. Yêu cầu của Ngân hàng đối với anh ông K, bà N đã làm phát sinh tranh chấp hợp đồng hạn mức tín dụng, tranh chấp hợp đồng thế chấp tài sản, đây là quan hệ tranh chấp dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  4. Về tư cách tố tụng: Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 868/21/HĐHM/1202-5722 ngày 16/12/2021 và hợp đồng tín dụng từng lần số 868/21/HĐTD/1202-5722 ngày 16/12/2021, việc ký kết các hợp đồng được thực hiện giữa Ngân hàng với ông K, bà N. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và/hoặc tài sản gắn liền với đất số 868/21/HĐTC-BĐS/1202-5722 ngày 16/12/2021 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K1 – P với với ông K, bà N. Quá trình thực hiện hợp đồng với ông K, bà N vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hạn mức tín dụng. Ngân hàng khởi kiện với ông K, bà N thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng hạn mức tín dụng và duy trì hợp đồng thế chấp giữa với ông K, bà N với Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng tham gia với tư cách là nguyên đơn; với ông K, bà N tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn; là phù hợp theo quy định tại khoản 2, khoản 3, Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

*Về nội dung:

  1. Hợp đồng hạn mức tín dụng: Trên cơ sở, hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 868/21/HĐHM/1202-5722 ngày 16/12/2021 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 868/21/HĐTD/1202-5722 ngày 16/12/2021, những người tham gia ký kết đều có năng lực hành vi dân sự, các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không trái quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; hợp đồng được lập thành văn bản đúng theo quy định tại các Điều 117, 118, 119, 463, 465, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.
  2. Vốn vay: Tài liệu có trong hồ sơ thể hiện, Ngân hàng đã thực hiện đúng các thỏa thuận trong hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân cho ông K, bà N số 150.000.000 đồng như cam kết, ông K, bà N đã nhận đủ tiền vay; trong quá trình thực hiện hợp đồng ông K, bà N chưa thực hiện nghĩa vụ trả vốn gốc theo hợp đồng; Ngân hàng yêu cầu ông K, bà N phải thanh toán toàn bộ số nợ gốc 150.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 280, khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015, đây cũng là quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu. Xét, chấp nhận.
  3. Tiền lãi: Trong hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 868/21/HĐHM/1202-5722 ngày 16/12/2021 và hợp đồng tín dụng từng lần số 868/21/HĐTD/1202-5722 ngày 16/12/2021 Ngân hàng với ông K, bà N đã có thỏa thuận về mức lãi suất, cách tính lãi, ngày thanh toán tiền lãi và trường hợp chuyển nợ quá hạn. Cụ thể: lãi suất vay 12.9%/năm; lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; mức phạt chậm trả lãi 10%/năm; hình thức thanh toán: Kỳ hạn trả lãi vay, nợ gốc và số nợ gốc phải trả mỗi kỳ được quy định cụ thể trên từng Khế ước nhận nợ.

    Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì: “Trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật này và các luật khác có liên quan về thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng... thì áp dụng theo quy định của Luật này” và khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Việc thỏa thuận mức lãi suất, cách tính lãi suất nêu trên do Ngân hàng và ông K, bà N tự thỏa thuận đã được thực hiện đúng quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng và sự thỏa thuận giữa các đương sự phù hợp theo quy định tại Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Do vậy việc nguyên đơn yêu cầu ông K, bà N phải thanh toán toàn bộ số nợ lãi 65.818.975 (sáu mươi lăm triệu tám trăm mười tám nghìn chín trăm bảy mươi lăm) đồng, trong đó nợ lãi trong hạn là 14.414.219 (mười bốn triệu bốn trăm mười bốn nghìn hai trăm mười chín) đồng, lãi quá hạn 48.542.795 (bốn mươi tám triệu năm trăm bốn mươi hai nghìn bảy trăm chín mươi lăm) đồng, lãi phạt chậm trả 2.861.961 (hai triệu tám trăm sáu mươi mốt nghìn chín trăm sáu mươi mốt) đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng hạn mức tín dụng từ ngày 10/9/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ vay (có bảng kê chi tiết tính lãi của Ngân hàng đối với khoản nợ của ông N, bà K), đây cũng là quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu. Xét, chấp nhận.

  4. Buộc ông K, bà N phải có trách nhiệm trả vốn gốc và tiền lãi cho Ngân hàng, cụ thể:
    • - Tiền lãi 65.818.975 (sáu mươi lăm triệu tám trăm mười tám nghìn chín trăm bảy mươi lăm) đồng, trong đó nợ lãi trong hạn là 14.414.219 (mười bốn triệu bốn trăm mười bốn nghìn hai trăm mười chín) đồng, lãi quá hạn 48.542.795 (bốn mươi tám triệu năm trăm bốn mươi hai nghìn bảy trăm chín mươi lăm) đồng, lãi phạt chậm trả 2.861.961 (hai triệu tám trăm sáu mươi mốt nghìn chín trăm sáu mươi mốt) đồng tính từ ngày 24/3/2022 đến ngày 09/9/2024;
    • - Vốn gốc: 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng.

    “Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm đồng bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay”.

  5. Về tài sản thế chấp, để đảm bảo cho khoản vay, ông K, bà N đã thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 49.2m² đất, thửa đất số: 371, tờ bản đồ số: 15, tọa lạc phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, mục đích sử dụng đất: Đất ở đô thị theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DC 947262, số vào sổ cấp GCN: CH 11629 do Sở Tài Nguyên và Môi trường cấp ngày 24/11/2021, cho bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn K (hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và/hoặc tài sản gắn liền với đất số 868/21/HĐTC-BĐS/1202-5722 ngày 16/12/2021 được chứng thực tại Văn phòng C, tỉnh An Giang giữa Ngân hàng với ông K, bà N), để đảm bảo cho số tiền vay 150.000.000 đồng. Đây là tài sản thế chấp hợp pháp; ông K, bà N đã tự nguyện thế chấp tài sản hợp pháp của mình để đảm bảo cho khoản tiền vay. Hợp đồng thế chấp được ký kết trên tinh thần tự nguyện; hình thức, nội dung, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm pháp luật, không trái đạo đức xã hội; hợp đồng được lập thành văn bản, được chứng thực và đã đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 117, 119, 292, 293, 298, 317, 318, 319, 320, 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Hợp đồng thế chấp là hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng. Trường hợp ông K, bà N không thanh toán được khoản nợ cho Ngân hàng, Ngân hàng yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp. Trường hợp ông K, bà N không trả hoặc trả không dứt nợ khi bản án có hiệu lực thì Ngân hàng có quyền yêu cầu kê biên, phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để đảm bảo thi hành án là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 299, Điều 323, Điều 325 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đây cũng là quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu. Xét, chấp nhận. Xét, chấp nhận.
  6. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông K, bà N phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 600.000 đồng (sáu trăm nghìn) đồng. Ông K, bà N phải có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng TMCP K1 số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn) đồng theo quy định Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  7. Án phí:

    Nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

    Bị đơn phải chịu 10.790.949 (mười triệu bảy trăm chín mươi nghìn chín trăm bốn mươi chín) đồng (của số tiền 215.818.975 đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  8. Quyền kháng cáo bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 117, 118, 119, 280, 292, 293, 298, 299, 317, 318, 319, 320, 323, 325, 463, 465, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 157, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K1 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản” đối với bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn K;

    Buộc bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn K có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần K1:

    • - Tiền lãi 65.818.975 (sáu mươi lăm triệu tám trăm mười tám nghìn chín trăm bảy mươi lăm) đồng, trong đó nợ lãi trong hạn là 14.414.219 (mười bốn triệu bốn trăm mười bốn nghìn hai trăm mười chín) đồng, lãi quá hạn 48.542.795 (bốn mươi tám triệu năm trăm bốn mươi hai nghìn bảy trăm chín mươi lăm) đồng, lãi phạt chậm trả 2.861.961 (hai triệu tám trăm sáu mươi mốt nghìn chín trăm sáu mươi mốt) đồng tính từ ngày 24/3/2022 đến ngày 09/9/2024.
    • - Vốn gốc: 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng.

    “Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay”.

  2. Duy trì thế chấp quyền sử dụng đất diện tích quyền sử dụng đất diện tích 49.2m² đất, thửa đất số: 371, tờ bản đồ số: 15, tọa lạc phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, mục đích sử dụng đất: Đất ở đô thị theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DC 947262, số vào sổ cấp GCN: CH 11629 do Sở Tài Nguyên và Môi trường cấp ngày 24/11/2021, cho bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn K thep hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và/hoặc tài sản gắn liền với đất số 868/21/HĐTC-BĐS/1202-5722 ngày 16/12/2021 được chứng thực tại Văn phòng C, tỉnh An Giang giữa Ngân hàng với ông K, bà N. Trường hợp ông K, bà N không trả hoặc trả không dứt nợ khi bản án có hiệu lực thì Ngân hàng có quyền yêu cầu kê biên, phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để đảm bảo thi hành án.
  3. Về chi phí tố tụng: Ông K, bà N phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 600.000 đồng (sáu trăm nghìn) đồng. Ông K, bà N phải có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng TMCP K1 số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn) đồng.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn K phải chịu 10.790.949 (mười triệu bảy trăm chín mươi nghìn chín trăm bốn mươi chín) đồng (của số tiền 215.818.975 đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Ngân hàng TMCP K1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho Ngân hàng số tiền 4.574.000 (bốn triệu năm trăm bảy mươi bốn nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai số 0007743 ngày 27 tháng 03 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu.

Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo đương sự vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh An Giang (01);
  • - VKSND TX. Tân Châu (02);
  • - Chi cục THADS TX. Tân Châu (01);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu văn phòng (2);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thùy Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/DS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản

  • Số bản án: 46/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ng, Khoe vi phạm hợp đồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger